Trên thế giới, từ trước giờ các công ty trong lĩnh vực công nghệ và Internet đều có thể chia theo một số loại như phần cứng, phần mềm, Internet, sản xuất điện thoại, mạng điện thoại, nội dung số.
Ngoài ra về khía cạnh sản phẩm thì các tập đoàn châu Á đa số đều đi theo hướng đa dạng hóa như Sony, Samsung, LG.... Các tập đoàn Âu, Mỹ hầu như đi theo hướng chuyên môn hóa như Nokia, Dell, Google…
Thỉnh thoảng chỉ thấy ngoại lệ như Microsoft nhảy vào lĩnh vực phần cứng với Xbox, Zune nhưng không thành công mấy. Độc đáo nhất chỉ có Apple có thể chiến thắng trên hầu hết các mặt trận mà họ tham gia với máy Mac, iPod, iPhone, iTunes, AppStore…

Thế nhưng với hàng loạt động thái một vài năm gần đây của các tập đoàn lớn cả Âu lẫn Á và ngay ở VN cho thấy không có hàng rào nào ngăn cản họ tiến sang những sân chơi khác. Kẻ đang ở dưới biển thì lên rừng, kẻ ở rừng thì… bay lên trời.
· Google với Android/Voice/Nexus One, Amazon với Kindle
· Nokia với Ovi/ Tablet 3G, Samsung với Bada
· Dell, Asus, Acer, FPT cũng sản xuất điện thoại.
· Viettel sản xuất máy tính, điện thoại di động, tham gia Internet, ứng dụng mobile…
Sắp tới ai biết được điều gì sẽ xảy ra??? Biết đâu Apple lại tung ra một mạng xã hội mới dạng love-matching dành riêng cho những người dùng Mac + iPhone + iPad vốn là những người có điểm chung “cá tính, đam mê, thu nhập cao”? Hay Facebook buồn tình tung ra một hệ điều hành web FaceOS, hoặc một FacePad gì đó chỉ dùng cho các hoạt động của các user trên Facebook platform? Ở VN thì Viettel có vẻ không ngần ngại khi tham gia bất cứ mảng nào họ thấy có lợi nhuận.
Những hoạt động này cho thấy các công ty chuyển từ việc tận dụng các lợi thế chiều dọc/ chuyên sâu một loại sản phẩm/công nghệ sang lợi thế chiều ngang/quy trình - tham gia vào tất cả các bước liên quan trong hoạt động hàng ngày của người sử dụng mà không cần biết đó là cứng, mềm hay mạng… Miễn là họ có đủ nguồn lực: tiền, nhân sự và họ biết sẽ có một lượng lớn khách hàng cũ sẽ sử dụng sản phẩm mới của họ.
Những điều trên có vẻ vĩ mô và chung chung quá, vậy chúng có ảnh hưởng gì đến Internet VN và những người đang làm việc trong lĩnh vực CNTT & Internet?
Với ngành Internet Việt Nam
+ Tiền vào nhiều hơn
Tổng doanh thu của ngành công nghiệp nội dung số VN năm 2008 là 170 triệu USD, khoảng 3.200 tỉ. Trong khi đó chỉ cần Viettel tung 30% lợi nhuận của 10.000 tỉ vào đã khiến số tiền trên tăng gấp đôi. Và ai biết Mobifone, Vinaphone, Beeline… sẽ không tiếp bước Viettel?
Từ đó một số công ty con/startup lại có lợi khi làm sub-contract/partner hay M&A cho các đại gia mới gia nhập ngành muốn mua thời gian. Rồi một số công ty mobile apps/ marketing/content lại ra đời thúc đẩy tăng trưởng của mảng này.
+ Cạnh tranh khốc liệt hơn
Dĩ nhiên đi đôi với tiền là vũ khí. Các công ty phải cạnh tranh nhau khốc liệt hơn nhiều. Viettel chưa cần phô diễn các thế mạnh về người dùng, hệ thống phân phối… mà chỉ vác bọc tiền ra là đủ “lấy tiền đè người” rồi.
Tiếp theo trước đây các đối thủ dùng cùng loại vũ khí để đánh nhau trên một sàn đấu, thì giờ đây không còn luật lệ đó nữa. Ai có súng dùng súng, ai có dao dùng dao, ai có … đủ thứ thì lôi ra chơi luôn một lần. Rõ ràng ai có nhiều “hàng” hơn có xác suất “tấn công” nhiều user hơn, ít nhất là so với bản thân họ lúc trước.
Với nhân sự Internet Việt Nam
+ Có nhiều việc làm hơn
Nếu trước đây lập trình viên, những người làm nội dung số… chỉ có thể vào ra các công ty Internet là chính, giờ đây họ có thể ứng tuyển vào mạng di động, vào các công ty sản xuất điện thoại (nội dung số).
+ Mặt bằng lương cao hơn, luân chuyển nhiều hơn
Lượng công việc nhiều hơn, tiền vào nhiều hơn, mà số người có thể tham gia làm việc ngay không thay đổi mấy, vậy chuyện gì sẽ xảy ra?
Với người dùng cuối
+ Nhiều hơn, tiện hơn, rẻ hơn
Trước đây họ lướt web bằng máy tính, giờ có thể lướt mobile web hoặc tablet, iPad. Trước đây phải xài ADSL thì giờ vô tư không cần dây với 3G. Trước đây sms phải nhắn tin tốn tiền, giờ dùng ViTalk hoặc Ola… hay vào Dailyinfo của Viettel để có 5 tin free mỗi ngày. Quá sướng!
Với các công ty thông thường
+ Tiếp cận khách hàng trên nhiều kênh hơn
Nếu trước đây họ chỉ có mỗi kênh Internet thì giờ đây họ có thể chọn thêm mobile. Như vậy có thêm sự lựa chọn rất hấp dẫn này, nhiều khả năng các công ty sẽ tăng tỉ trọng chi cho tiếp thị số. Nhờ vậy dòng tiền lại tiếp tục chạy vào ngành như phần trên đã nói.
Cuối cùng, có vẻ Internet VN đang bắt đầu tăng tốc lớn lên. Biên giới giữa các mảng Internet, di động, phần cứng, phần mềm …đã bị xóa bỏ. Thế giới đang thu hẹp lại, nhỏ đi!
http://www.facebook.com/note.php?note_id=321465094226
Bài kỳ trước: Startup Vietnam: 7 yếu tố của một hệ thống bền vững
Bài liên quan: 7 dự đoán về Internet Việt Nam 2010
Tuesday, February 23, 2010
Startup Vietnam – To hơn, nhỏ đi!
Posted by nm at 3:57 PM 0 comments
Labels: internet business, internet startup, Internet VN, mobile, start-up, Startup Vietnam
Tuesday, February 02, 2010
Startup Vietnam: 8 đặc điểm của một sản phẩm “hoàn hảo” – phần 2
Phần 1
"keep speed in mind"
5. Tương tác cao
Một trong những đặc trưng không thể bỏ qua của Internet là tương tác. Nhất là trong thời buổi ai cũng bận rộn thiếu thời gian để tương tác offline thì mọi người càng dành nhiều thời gian cho tương tác online. Đồng thời một website càng có tính tương tác cao thì càng sống động và không cần phải tốn nhiều chi phí cho việc tiếp thị, tự người dùng sẽ trao đổi, giới thiệu lẫn nhau về website đó. Tính tương tác có thể xét trên các phương diện tương tác giữa người dùng với nhau, giữa người dùng với sản phẩm, và cao cấp hơn nữa là giữa developer với sản phẩm.
Một trong những thể loại sản phẩm có tính tương tác cao giữa người dùng với nhau là mạng xã hội mà cụ thể là Facebook. Trước đây ở VN Yahoo 360 đã từng “vang bóng một thời” khi đâu đâu cũng bàn tán về blog này, blog nọ. Thậm chí những hot blogger còn nhanh chóng trở thành “ngôi sao” nổi tiếng không kém gì các ca sĩ, diễn viên thời thượng. Đóng góp lớn vào thành công của Y360 là friendlist và comment/quick comment. Blogspot, Wordpress, Multiply… là những bloging platform rất tốt nhưng là mô hình conten-centric không chú trọng vào relationship – tính tương tác giữa các blogger nên không phổ biến ở VN như các mạng có đặc điểm này.
Tuy nhiên không nhất thiết cứ phải là mạng xã hội thì sản phẩm mới có tính tương tác cao. Tương tác cao giữa người dùng và sản phẩm có thể kể đến Digg.com hay linkhay.com. Một dạng tương tác giữa người dùng tạo ra nội dung của sản phẩm nữa là các thể loại wiki mà Wikipedia là người tiên phong. Google mới tung ra một sản phẩm theo kiểu này là Google Sidewiki (Chrome extension) cho phép comment vào bất cứ trang web nào. Ở VN sản phẩm theo trường phái này Baamboo Tra từ. Một dạng khác nữa cũng thuộc mục này là tương tác giữa sản phẩm và nội dung của người dùng, đó là Adsense.
Tính tương tác cao giữa sản phẩm với với developer, đại ý là developer có thể tham gia sử dụng lại sản phẩm cha (kết nối qua API) hay đóng góp tạo ra những sản phẩm con (apps) kí sinh trên sản phẩm cha, hay thậm chí viết lại mã nguồn. Đại diện của trường phái này tiêu biểu là Facebook, Google, hay OS là Linux, browser là Firefox, ở mobile là Android. Linux là sản phẩm gặt hái thành công đầu tiên. Facebook mở rộng khái niệm “open source” của Linux thành “open platform”. Google, Yahoo học Facebook tạo ra OpenSocial, BOSS nhưng hiệu quả chưa thấy rõ. Các dòng sản phẩm của Google càng về sau càng đi theo xu hướng platform như Web OS, Chrome, Android. Tuy nhiên phát triển sản phẩm theo hướng này không dễ, phải có cả điều kiện cần và đủ là hàm lượng chất xám về công nghệ rất cao và cộng đồng developer có thói quen phát triển phần mềm tự do. VN có Zing Me đi tiên phong trong thể loại này.
Người dùng hay developer, ai cũng muốn tham gia góp tiếng nói vào sản phẩm, vậy đừng quên sự có mặt của họ.
6. Nội dung là của người khác và có tính tự động hóa cao
Mục này có đôi chút trùng lặp với mục 5 – tương tác cao. Vì thông thường sản phẩm tương tác cao sẽ có xu hướng tạo ra nội dung. Khi người dùng tương tác cao với nhau hoặc với sản phẩm họ tạo ra user-created-content. Khi developer tương tác cao với sản phẩm, họ góp phần tạo ra sản phẩm giúp sản phẩm ngày càng được mở rộng với tốc độ và chất lượng mà không tự thân công ty hay team tạo ra sản phẩm nào có thể nào tự mình phát triển được. Những sản phẩm tiêu biểu là Wikipedia, Digg, Facebook, Napster.
Ở khía cạnh nội dung, trên thế giới có hai site nổi tiếng có cách thức ngược nhau là Amazon và Ebay. Nội dung của Ebay là hàng hóa mua bán qua lại của người dùng nên họ không phải lo phần này. Nội dung của Amazon là hàng hóa có thật sách vở, băng đĩa…, nên ban đầu họ phải tự mua, hoặc hợp tác để mua hàng từ đối tác khác nên phải huy động một lượng vốn rất lớn từ ban đầu. Hầu hết các công ty không thể làm như Amazon. VN có Vinabook theo mô hình Amazon. Một dòng sản phẩm nữa phát huy tiêu chí nội dung của người khác là peer to peer (Kazaa, eDonkey) – không hiểu tại sao ở VN không thấy ai làm sản phẩm loại này?
Ở khía cạnh tự động hóa có thể nhắc đến VnExpress. Ban đầu nội dung của VnExpress là copy từ các báo khác. Sau này tính thu hút của nội dung VnExpress là do chính đội ngũ phóng viên của họ tạo ra. Như vậy VnExpress sẽ không được điểm cao trong tiêu chí này do họ phải tự tạo ra nội dung. Với startup và những công ty nhỏ sẽ không thể nào học theo cách của VnExpress, vốn có FPT to đùng hỗ trợ đằng sau từ ban đầu. Một sản phẩm tin tức khác tận dụng ưu thế tiêu chí này là baomoi.com vốn không cần một đội ngũ hùng hậu như VnExpress vẫn có thể tạo ra một lượng nội dung khổng lồ không kém. Điểm yếu của sản phẩm tự động hóa cao là thiếu tính sống động thu hút của sản phẩm có sự can thiệp cao của con người.
Ngoài ra một yếu tố quan trọng của nội dung là đừng chiếm quá nhiều tài nguyên đường truyền và server như video, mp3, ảnh… Chỉ khi bạn có sự hỗ trợ của các đại gia túi rủng rỉnh tiền thì yếu tố này mới bớt quan trọng.
Một cái chết nổi tiếng từ dòng sản phẩm đi ngược tiêu chí 6 này hoàn toàn là từ điển lừng danh một thời Encarta Encylopedia của Microsoft.
7. Tốc độ
Có 3 loại tốc độ quan trọng là tốc độ tải trang/xử lý yêu cầu, kế đến là tốc độ cập nhật nội dung, và cuối cùng là tốc độ phản hồi người dùng.
Tốc độ tải trang và tốc độ xử lý yêu cầu thường phụ thuộc vào chất lượng công nghệ hoặc thiết kế giao diện của sản phẩm. Sản phẩm càng có nhiều người dùng thì càng phải lưu ý yếu tố này. Google đặc biệt quan tâm đến yếu tố này hơn hẳn các đại gia khác như Microsoft, Yahoo, Facebook. Tốc độ loại này đã khiến Clip.vn rơi vào thế yếu so với Youtube sau khi Youtube có server đặt tại VN. Đôi khi tốc độ xử lý yêu cầu thậm chí phụ thuộc các yếu tố bên ngoài sản phẩm/team như logistic, thuế quan địa phương, thời tiết… như trong trường hợp Amazon. Ở VN khi đặt hàng qua eBay Vietnam hình như mất khoảng 2 tuần.
Tốc độ cập nhật nội dung có khi phụ thuộc vào công nghệ sản phẩm (các loại search engine), hoặc phụ thuộc vào hành vi/tần suất sử dụng của người dùng. Với một thế giới ngày càng đòi hỏi kết quả phải nhanh hơn, thật hơn thì tốc độ của nội dung cực kỳ quan trọng. Ngay cả Google và Bing cũng không thể cung cấp kết quả search “realtime” mà phải cậy nhờ vào nội dung thời gian thực của Facebook và Twitter. Một yếu tố góp phần tạo ra sự thu hút của Tuổi Trẻ Online so với các báo điện tử khác là do tốc độ cập nhật tin của site này rất nhanh.
Cuối cùng một yếu tố tốc độ không thực sự nằm trong sản phẩm nhưng rất quan trọng là tốc độ phản hồi người dùng hay tốc độ duyệt nội dung của đội ngũ admin/mod. Có lần bạn tôi email nhờ Facebook hỗ trợ giải quyết một vấn đề liên quan fanpage, thật không ngờ chỉ trong vòng chưa đến 24h sau họ đã xử lý và trả lời nhanh chóng khiến bạn tôi rất ngạc nhiên và cảm kích. Điều này không hề đơn giản với một site có hơn 300 triệu người dùng trên toàn thế giới.
Hãy xem Google nói gì? "We keep speed in mind with each new product we release."
8. Cá nhân hóa
Cá nhân hóa là mức độ đáp ứng của sản phẩm đối với các yếu tố thuộc về thói quen sở thích và các thông tin cá nhân của từng người dùng cụ thể, thay vì phản ứng “trước sau như một” với hàng ngàn người dùng khác nhau. Đây là một hành vi mô phỏng lại thế giới thực trong quan hệ giữa người với người. Nếu hai người có mối quan hệ càng gần gũi và thân thiết thì càng hiểu rõ thói quen sở thích và thông tin cá nhân của nhau nhiều hơn.
Đây là một yếu tố hiện tại chưa quá quan trọng ở VN, nhưng càng ngày yếu tố này càng trở nên quan trọng hơn. Với ứng dụng mobile thì đây là một tiêu chí có tầm quan trọng hơn so với mức độ quan trọng của nó trên sản phẩm web, bởi vì một điện thoại di động chỉ dùng bởi một người, trong khi một máy tính có thể được dùng bởi nhiều người khác nhau. Các mối quan hệ 1-1 thường đòi hỏi tính cá nhân nhiều hơn các mối quan hệ 1-n.
Facebook đang rất quan tâm tới yếu tố này khi họ mới thay đổi các tính năng và privacy policy. Yếu tố cá nhân hóa cũng là một đặc tính rất quan trọng để họ thiết kế hệ thống quảng cáo hướng người dùng và thu hút các khách hàng quảng cáo. Mức độ cá nhân hóa cao cũng là yếu tố quan trọng dẫn đến thành công của Adsense và Adwords. Tuy nhiên không phải sản phẩm mang tính cá nhân hóa nào cũng thu hút sự chú ý. iGoogle cũng không được ưa chuộng lắm thì phải?
Hiện tại hầu hết các sản phẩm web 2.0 ở VN chưa có tính cá nhân hóa, hoặc nếu có thì chưa có nhiều tính năng cá nhân hóa được ưa chuộng. Có vẻ chỉ các site âm nhạc có nhiều yếu tố này? Khi mức độ quan tâm đến cá nhân hóa của người dùng càng cao thì các site có khả năng tự động hóa cao như baomoi.com càng phát triển, và các site dạng forum càng gặp khó khăn hơn do tiêu chí 3 - tổ chức dữ liệu không tốt.
Thời hoàng kim Yahoo! 360 có vài tính năng cá nhân hóa rất được ưa chuộng ở VN là avatar, status, background theme.
***
Vì một sản phẩm “hoàn hảo” thường không có thật, nên một sản phẩm đạt 6 tiêu chí là siêu lắm rồi. Nếu đặt Google vào thì cũng chỉ đạt 7 điểm, tiêu chí thứ 5 “Tương tác cao” Google không “đạt chuẩn”. Facebook chắc được 7.5 điểm, trừ 0.5đ do khó sử dụng.
Trong 8 tiêu chí trên thì các tiêu chí 1 – lĩnh vực, 2 – nhu cầu là quan trọng nhất, nếu sai là “lên đường” luôn. 3 – tổ chức dữ liệu, 5 – tương tác, 6 – nội dung là rất quan trọng phải lưu ý từ đầu. Còn các yếu tố 4 – giao diện, 7 – tốc độ, 8 – cá nhân hóa nếu kém sau đó vẫn có thể điều chỉnh lại được.
Tuy nhiên một sản phẩm tốt chưa đủ để tạo nên thành công, ta phải xây dựng một hệ thống tốt xoay quanh sản phẩm để thành công. Vì thế bài kỳ tới sẽ là “Internet startup: 7 dấu hiệu của một hệ thống lý tưởng”.
http://www.facebook.com/note.php?note_id=279865104226
Bài kỳ trước: “Internet startup: 8 đặc điểm của một sản phẩm hoàn hảo – phần 1”
Posted by nm at 8:53 PM 0 comments
Labels: internet startup, kinh nghiệm khởi nghiệp, sản phẩm hoàn hảo, Startup Vietnam
Thursday, January 21, 2010
Startup Vietnam: Những ngôi sao dotcom mới?
Đã lâu rồi từ khi những dotcom như VnExpress, VietnamWorks, VinaGame chứng tỏ được thành công và sự nổi bật của họ trên Internet. Từ đó đến nay có khá nhiều Startup Vietnam đã xuất hiện, đến rồi đi, hoặc đang âm thầm lặng lẽ tiến lên, nhưng hình như đấu trường Internet vẫn chưa thấy nhiều gương mặt mới tỏa sáng. Bài này tôi thử điểm qua một vài gương mặt có nhiều tiềm năng thành… sao.

1. CafeF.vn – Điểm hẹn của nhà đầu tư tài chính
Thị trường chứng khoán VN hiện đang trồi sụt thất thường, nhưng lượng truy cập vào Cafef vẫn đang tăng ổn định. Tôi đoán phải hơn 80% các nhà đầu tư chứng khoán có dùng Internet đều biết đến CafeF. CafeF tập trung vào thông tin chứng khoán và các thông tin tài chính đầu tư liên quan như bất động sản, ngân hàng trong nước và thế giới…
Điểm mạnh
- Đánh trúng tâm lý đầu tư theo tin tức của đại đa số nhà đầu tư chứng khoán VN.
- Giao diện đơn giản dễ nhìn, cực kỳ “user-friendly”, nói không ngoa là một trong vài site có giao diện “pro” nhất hiện nay.
- Tin tức cập nhật hàng giờ và rất sát với nhu cầu nhà đầu tư chứng khoán.
- Được hỗ trợ bởi VCCorp một công ty Internet thuộc dạng kỳ cựu “hiểu Internet” nhất VN và có những site con rất “ăn khách” như Dantri, Kenh14, enbac…
- Về mặt chuyên môn & tài chính có sự hỗ trợ của tập đoàn Vincom – một trong những tập đoàn tài chính – bất động sản có mức vốn hóa hàng đầu hiện nay.
Các cách thu tiền đa dạng
- Quảng cáo banner truyền thống
- Thu tiền từ công ty cổ phần để: đăng bài giới thiệu/quảng bá, cập nhật thông tin/số liệu tài chính trong database
- Thu tiền từ các công ty chứng khoán thể hiện các bảng giá trực tuyến, biểu đồ thống kê.
- Khác: các gói thông tin/thống kê cho các đơn vị tổ chức trong ngành, thu tiền từ end-user trong tương lai.
Khách hàng trả tiền tiềm năng: công ty cổ phần niêm yết/sắp niêm yết, công ty chứng khoán, ngân hàng, công ty bất động sản, các khách hàng quảng cáo các mặt hàng đắt tiền như xe hơi…
Với lợi thế thu hút được một lượng lớn các user trung thành hàng ngày, đặc biệt trong lĩnh vực “gần tiền” như tài chính – thì khả năng tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận của Cafef rất cao.
Điểm yếu: chưa có những thông tin và công cụ chuyên sâu hơn và đây là điểm mà Stox.vn một đối thủ tiềm năng nhất của Cafef có thể khai thác. Tuy nhiên trong tương lai gần thì đa số các nhà đầu tư chứng khoán VN chỉ quan tâm tin tức mà chưa có thói quen sử dụng những tính năng “advanced” vốn là lợi thế của Stox.
2. 5giay.vn – Diễn đàn mua bán sôi động nhất
Khởi nguồn từ một diễn đàn trao đổi thông tin về linh kiện máy tính do vài người chủ công ty máy tính Nhật Nguyệt xây dựng vào giữa năm 2004, 5giay đã dần dần thu hút những người sử dụng là những người mua bán ở các cửa hàng nhỏ ở khắp nơi, đặc biệt là những cửa hàng buôn bán máy tính, điện thoại di động, đồ điện tử. Theo 5giay, họ có 350.000 thành viên thường xuyên trao đổi, 1.7 triệu lượt truy cập hàng ngày.
Có thể nói rất nhiều cửa hàng buôn bán nhỏ, những người bán lẻ dạng eShop sống nhờ vào 5giay như một kênh bán hàng chính. Đây cũng là điểm mạnh nhất của 5giay khi dịch vụ đáp ứng đúng nhu cầu thiết thực của nhóm mua bán đông đúc nhất, đúng kiểu “văn hóa VN” nhất. Điểm mạnh này xuất phát từ chính nhu cầu ban đầu của các founders 5giay là bán được linh kiện cho chính công ty của họ. Vì thế họ rất hiểu user, và thu hút lượng user y như bản thân mình.
Tuy xuất phát từ một công ty – cửa hàng nhưng 5giay tổ chức bộ máy khá chuyên nghiệp. Họ có riêng công ty truyền thông số iGo phục vụ cho việc marketing và bán quảng cáo. Các nhân viên của iGo phục vụ khách hàng rất nhanh, nhiệt tình qua các kênh điện thoại, chat, email, trực tiếp…
Nguồn thu của 5giay đến từ kênh quảng cáo banner là chính, cùng với các dạng tin VIP, up tin… Theo một nguồn tin thân cận của founders 5giay vào cuối năm 2008, mỗi tháng sau khi trừ chi phí các kiểu, chủ 5giay còn một khoản ~ 300 triệu.
Điểm mạnh: lượng khách hàng trung thành lớn và giao dịch thường xuyên, tổ chức quản lý các box tốt, có công ty tiếp thị - quản lý quảng cáo riêng.
Điểm yếu: chỉ có thể nói là “điểm chưa mạnh” là khả năng mở rộng quy mô & quản trị, chưa có công nghệ hỗ trợ nên sẽ khó khăn để chuyển đổi mô hình lên các hình thức cao hơn. Tuy nhiên với nhu cầu hiện tại của những người mua bán nhỏ thì 5giay đáp ứng rất tốt và có thể nói nếu bổ sung được những điểm mạnh này 5giay sẽ thực sự là một eBay của VN trong tương lai.
Đối thủ: 5giay có khá nhiều đối thủ “nặng ký” như chodientu.vn của PeaceSoft, 123mua.com.vn của VinaGame, vatgia.com – có đầu tư từ IDGVV và một quỹ venture Nhật Bản. Trong số này vatgia đang phát triển với một tốc độ rất nhanh và theo một nguồn tin từ quỹ đầu tư thì vatgia hiện đang phát triển doanh thu khá tốt.
Lợi thế chính của 5giay so với vatgia có lẽ là lượng “direct user” hàng ngày rất cao, còn lượng user của Vatgia đến từ nguồn SEO hẳn là không nhỏ (cái này là suy đoán, không có số liệu chính thức). Ngoài ra có khá nhiều website mua bán khác “hầm hố” không kém là enbac của VCCorp, nava.com của Nhaccuatui, muare.vn
3. muaban.net – Điểm rao vặt không thể thiếu
Dù rất nhiều website rao vặt đã chiếm thị phần trên Internet trước, nhưng muaban.net đã nhanh chóng trở thành site rao vặt thuộc dạng “Top of mind”, được nhắc đến hàng đầu khi ai đó cần rao thông tin mua bán nhà đất, xe cộ, thiết bị…
Đối tượng khách hàng “trung thành” của muaban.net cũng tương tự như 5giay.vn, tuy nhiên muaban.net chỉ có tính liệt kê mà không có tính tương tác như 5giay. Với lượng thông tin đa dạng và phong phú từ báo giấy, muaban.net tiếp tục thu hút thêm lượng khách rao vặt trực tiếp trên Internet.
Điểm mạnh: nhắc đến muaban.net không thể không nói tới hậu thuẫn offline của họ là tờ báo Mua & Bán, một tờ báo có thể nói là thuộc dạng lý tưởng nhất trong làng báo VN dù nội dung thuộc dạng “rao vặt đường phố”. Lượng phát hành hàng ngày của báo Mua & Bán giấy thuộc dạng nhiều nhất VN với hàng trăm ngàn bản mỗi ngày.
Nguồn thu của muaban.net đến từ tiền đăng tin rao thông qua SMS, online payment (Mobivi, Vinapay), offline. Trong khâu thanh toán một lợi thế lớn của họ so với các đối thủ khác là có các văn phòng đại diện offline của báo giấy rộng khắp các quận của những thành phố lớn như HN, HCM, Đà Nẵng, Hải Phòng.
Đối thủ lớn của muaban.net hẳn là vatgia.com - vốn đang được xem là một site listing không thể thiếu với khả năng SEO cực tốt của mình.
Gần đây muaban.net đã có hẳn một CEO được đào tạo từ Mỹ vốn là một Senior Assciate được IDGVV cử sang. Với nhiều lợi thế như vậy, muaban.net có thể sẽ là Craiglist của VN trong tương lai. Tuy nhiên không hiểu sao gần đây muaban.net lại bị rớt ra ngoài top Alexa 100 Việt Nam???
Ngoài ra có một số website rất có tiềm năng khác như ken.vn, diaoconline.vn…
http://www.facebook.com/note.php?note_id=260584434226
Bài kỳ trước:
Startup Vietnam: 10 sai lầm thường gặp của startup
Trên FB & bình luận: Internet startup: 10 sai lầm thường gặp của startup
Bài kỳ tới – Thứ 3 ???
Tuesday, January 19, 2010
Internet startup: 10 sai lầm thường gặp của startup
Dưới đây tôi tổng hợp lại một “bộ sưu tập” các sai lầm mà chính bản thân Skydoor, startup bạn bè tôi, hay một số Internet startup khác thường mắc phải. Đồng thời tôi cũng thử đưa ra một hai giải pháp từ quan điểm cá nhân để giảm thiểu hậu quả của những sai lầm này.
1. Không đủ Dream Team
Tuy nhiên, đã Dream Team thì ít khi có thật, vì thế ban đầu startup chỉ cần 3 vị trí đầu trong Dream Team là quá ổn rồi. Nếu thiếu một thì startup đó sẽ gặp ngay các vấn đề khi: phát triển sản phẩm, hiện thực mô hình kinh doanh, làm việc với quỹ đầu tư. Không có Dream Team hoặc có Dream Team nhưng các thành viên không làm việc được với nhau là sai lầm (hoặc khiếm khuyết) lớn nhất mà một Internet startup có thể mắc phải. Và nó cũng sẽ dẫn đến những sai lầm khác.
2. Chọn sai “ao”
Ao ở đây là thị trường. Nếu chọn ao to quá, có nhiều cá mập thì đó không phải là ao nữa, mà là đại dương đỏ khốc liệt. Nếu chọn ao bé quá, ít cá thì sau này khó mở rộng quy mô hoạt động, và quỹ đầu tư cũng không quan tâm những startup đang bơi trong những ao quá bé. Chọn ao tốt mà mình không biết kỹ thuật đánh bắt thì cũng khó mà bắt được cá to.
IDGVV có một slide nói về hơn 10 cái ao mà họ quan tâm dạng như: game online, jobs online, mobile services… tại đây .
3. Theo “kiểu Mỹ”
Mỹ có quá nhiều điểm khác biệt với VN về hạ tầng, văn hóa, trình độ hiểu biết Internet/công nghệ của người dân nên nên sản phẩm hot ở Mỹ chưa chắc đã được quan tâm ở VN, nhiều người quan tâm chưa chắc đã kiếm tiền được. Nôm na là đem cá ở ao Mỹ về thả ở ao VN, chắc gì đã sống, môi trường ô nhiễm quá mà.
Để cá có xác suất tồn tại cao, nên chăng chọn cá ở những ao có môi sinh tương tự VN ? Hiện FPT, VinaGame đều đang quan tâm “theo đuôi” mô hình những dotcom TQ như Tencent. Chắc họ phải có lý do rồi.
4. Quá lạc quan hay ‘Think big”
Có lẽ những người làm startup hay dễ lạc quan hơn bình thường một chút, vì startup là một hành vi “đầu tư mạo hiểm”. Dám mạo hiểm thì phải lạc quan. Lạc quan thì thường “think big”. Think big sẽ dẫn đến việc đặt mục tiêu quá cao, không khả thi. Hoặc lạc quan quá lại hay kỳ vọng, kỳ vọng không đạt được sẽ dễ thất vọng, nản chí. Ngoài ra lạc quan quá cũng dễ dẫn đến việc chi tiêu không hợp lý, đốt nhanh hết tiền.
“Think big” chắc nên đi kèm với “Act small”?
5. Quá coi trọng ý tưởng
Có lẽ nguồn gốc của việc coi trọng ý tưởng xuất phát từ Mỹ. Ở Mỹ có quá nhiều người xuất sắc và quá nhiều người có thể hành động để hiện thực ý tưởng, nên nếu Internet startup nào có một ý tưởng khác biệt thì dễ thành công hơn. VN là một nước đang phát triển, mọi thứ đều chưa hoàn hảo, chỉ cần lên mạng dò 5 phút hoặc du lịch 3 ngày sang TQ, Sing, Úc… là có ngay cả tá ý tưởng có thể áp dụng ở VN. Quá coi trọng ý tưởng dẫn đến việc giấu giếm thông tin, không thể nhận được phản hồi từ khách hàng mục tiêu, bạn bè, nhà đầu tư… nên dễ dẫn đến những chệch choạc về sau.
Vấn đề có lẽ là ai sẽ hiện thực ý tưởng tốt nhất, kiên trì nhất chứ không phải ai là người có ý tưởng tốt nhất, sớm nhất.
6. Giới thiệu sản phẩm quá chậm/ quá nhanh
Thường gặp ở VN chắc là launch sản phẩm quá chậm. Đưa sản phẩm ra công chúng chậm sẽ nhận được phản hồi của từ thị trường chậm, do đó nhiều khi tiêu tốn quá nhiều thời gian công sức tiền bạc vào những thứ người sử dụng không quan tâm. Launch sản phẩm quá nhanh dẫn đến việc đưa ra nhiều tính năng dư thừa người dùng không cần đến. Nhưng dù sao nhanh vẫn tốt hơn chậm, vì cái sai của nhanh dễ sửa hơn sai của chậm, và chi phí cơ hội cũng ít hơn. Một lý do startup hay ngần ngại đưa ra sản phẩm sớm là như mục 5 “Quá coi trọng ý tưởng”.
Lẽ thường một sản phẩm trước lúc “hoàn hảo” phải thay đổi điều chỉnh năm bảy bận là ít.
7. Không dùng thức ăn của chó
Sai lầm này kỳ cục nhỉ? Microsoft có một câu: “Eat your own dog food”. Sản phẩm của Microsoft trước khi đưa ra thị trường sẽ được cài đặt cho tất cả các nhân viên phòng ban liên quan sử dụng. Developer phải đứng ở góc độ của người dùng bình thường thì mới tạo ra được những sản phẩm xuất sắc và “user-friendly”. Các thành viên trong startup dễ rơi vào trường hợp sử dụng sản phẩm của chính mình ít, hoặc không được thường xuyên và sẽ xa rời user của mình.
Bạn đi xa ra khỏi user thì làm sao họ có thể yêu mến bạn?
8. Chú trọng vào tiếp thị hơn cải tiến sản phẩm
Startup thường lo lắng: “Làm sao để tiếp thị sản phẩm?”. Và bắt đầu tuyển ngay một chuyên gia tiếp thị khi có đầu tư, sau đó tập trung marketing đủ kiểu từ SEO đến báo chí online, offline để thu hút khách hàng mới… thay vì tập trung hoàn thiện sản phẩm, hoặc duy trì tốt mối quan hệ với những khách hàng trung thành hiện tại của mình (CRM).
Tiếp thị thực sự bắt đầu khi chọn ý tưởng, khi thiết kế các tính năng sản phẩm chứ không phải khi tên startup của bạn xuất hiện trên một tờ báo. Thử nhìn các sản phẩm của Google được tiếp thị theo cách nào?
9. Không yêu tiền
Dân startup thường có tech-background. Dân tech-background hay quan tâm đến việc tạo ra sản phẩm mà ít nghĩ đến việc kiếm tiền từ sản phẩm đó như thế nào, ngay từ đầu. Dĩ nhiên “kiếm tiền” là câu hỏi “To be or not to be?”, sớm muộn ai cũng phải trả lời. Vì thế ai chịu khó trả lời sớm thì sẽ có kinh nghiệm hơn. Một số startup thậm chí đã được đầu tư nhưng cũng chưa chịu “thử” kiếm tiền, dù ít. Liệu mô hình kinh doanh của họ có khả thi hay không?
Kiếm tiền từ sản phẩm và kiếm tiền từ nhà đầu tư hẳn là hai câu hỏi cụ thể cần trả lời theo trình tự và càng sớm càng tốt, ngay từ lúc thành lập startup. Phải tập có "money mind" hoặc xem lại bài Đi tìm Dream Team.
10. Chưa tích lũy đủ sai lầm
Tôi nhớ Einstein có một câu nói “Thiên tài là người phạm hết các sai lầm trong một lĩnh vực”. Thống kê ở Mỹ cũng cho thấy thường một entrepreneur thành công phải lập hơn 3 startup rồi mới có kết quả. Điều này phù hợp với quy luật biện chứng về lượng & chất “ phải tích lũy đủ một lượng nào đó thì chất mới đổi”.
Thử đi hỏi những người thành công, số lượng sai lầm của họ hẳn là vô số, có điều bạn ít thấy sai lầm được nói đến trong những bài báo viết về họ mà thôi. Kinh nghiệm khởi nghiệp không lúc nào thừa.
---
Tóm lại, nếu phải lấy ra thứ quan trọng nhất thì tôi chọn sai lầm số 1 cho điều kiện cần và sai lầm số 10 cho điều kiện đủ phải giải quyết để hình thành một startup thành công.
http://www.facebook.com/note.php?note_id=257285254226
Bài kỳ trước: Internet startup: Đi tìm Dream Team
Bài tiếp theo - Thứ 5: Internet startup: Những ngôi sao dotcom mới?
Tuesday, January 12, 2010
Internet startup: Dotcom và tiệm sửa xe – phần cuối: www.SuaxeOnline.com
Một hôm tôi bỗng nổi hứng giã từ sự nghiệp Internet startup để giải nghệ và mở tiệm sửa xe (TSX). Ngoài những lợi thế của TSX trong bài trước, tôi phát hiện ra TSX có một vấn đề chung với dotcom là niềm tin và một góc độ kém hẳn so với dotcom là thương hiệu.
Lợi thế của Internet
Niềm tin là khi bạn đi đâu đó và bị hư xe, bạn muốn sửa xe nhưng không biết nên vào tiệm nào, vì khả năng bạn bị chặt chém là khá cao. Đặc biệt là khi bạn bị cán đinh, một xác suất khá cao khi bạn dắt xe vào các tiệm ven đường là bị họ làm đứt luôn chỗ nối van xe và ruột xe để thay mới với giá cắt cổ.
Vấn đề thương hiệu là có vô số tiệm sửa xe, và bạn không biết tiệm nào thật sự uy tín. Chỉ khi bạn nghe người quen giới thiệu một tiệm nào đó ở gần nhà thì bạn mới tạm yên tâm về chất lượng dịch vụ, giá cả.
Để giải quyết vấn đề niềm tin, cần phải tạo một dịch vụ uy tín, giá cả rõ ràng, có thương hiệu hẳn hoi. Để giải quyết vấn đề thương hiệu, tôi đem dịch vụ này lên Internet. Vì thế tôi mở một dotcom: www.SuaxeOnline.com Thật ra đây không phải là một dotcom, tôi chỉ lấy những lợi thế của một dotcom áp vào một mô hình thực tế để có thể nhìn nhận rõ một khía cạnh “quyền lực” của dotcom mà thôi.
Khởi nghiệp
Ban đầu tôi dự tính mở một tiệm nho nhỏ ở mặt tiền đường gần nhà, nhưng phải cách xa tiệm của anh chàng cùng hẻm một khoảng hơn 300m để tránh cạnh tranh trực tiếp. Sau đó suy đi nghĩ lại tôi thấy tự mình làm ăn kiểu này không ổn. Tôi quyết định mời anh ta tham gia hùn vốn, làm co-founder :p Lúc đầu anh ta ngần ngừ không muốn hợp tác, vì tự anh ta đã đang ăn nên làm ra. Nhưng tôi lấy lý do khả năng mở rộng ra nhiều tiệm, và khả năng xây dựng một thương hiệu sửa xe nổi tiếng cả nước ra thuyết phục, cuối cùng anh ta cũng xiêu lòng.
Thật là may mắn, bộ sậu tạm ổn. Vì tôi chỉ hiểu biết về Internet và một chút ít về quản trị, thương hiệu. Nếu tôi tự mình dấn thân vào lĩnh vực này sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Còn anh ta là một chuyên gia trong lĩnh vực “sửa xe”. Có vẻ chúng tôi có một “Dream Team” rồi.
Kế hoạch của chúng tôi khá đơn giản, ban đầu chúng tôi phát triển một tiệm sửa xe như mô hình anh chàng kia đã làm, chỉ khác một chút: tiệm có một bảng hiệu rất oách www.SuaxeOnline.com và sẽ dùng những lợi thế của Internet để marketing và thu hút khách hàng. Điều này có vẻ khá dễ dàng, vì gần như trên Internet dịch vụ này là độc nhất vô nhị, thế nào mọi người cũng truyền miệng khắp nơi, và báo chí rồi sẽ đến viết bài ầm ầm :P
Sau đó chúng tôi sẽ gọi vốn đầu tư và phát triển mô hình nhượng quyền thương hiệu kiểu như Thegioididong.com. Hiện giờ Thegioididong có hơn 40 cửa hàng trên khắp cả nước sau nhiều năm hoạt động, với mô hình này tôi e là SuaxeOnline có thể phát triển đến 4000 cửa hàng toàn quốc chỉ trong vòng 5-10 năm chứ chả chơi.
Mô hình nhượng quyền thật ra không hề đơn giản, phải quản lý đủ thứ vấn đề: nguồn cung cấp, tiếp thị… và đặc biệt là quản lý sự nhất quán của toàn hệ thống. Nhưng thôi, đây là một vấn đề lớn ngoài chủ đề của bài này. Thử phân tích khả năng thương mại hóa của www.SuaxeOnline.com (SO) xem sao. Xét đến khả năng “tăng thu”, “giảm chi”.
Tiệm sửa xe giảm chi bằng cách nào?
Thông thường tiệm sửa xe chi vào những khoản sau
- Mặt bằng
- Máy móc thiết bị
- Nhân sự
- Chi phí mua phụ tùng
Để giảm chi => thuê mặt bằng trong hẻm, hoặc sửa xe tận nơi. Điều này khác với các TSX thông thường hay nằm ở mặt tiền. Các yếu tố khác cũng như TSX thông thường, chỉ khác chỗ khi nào có nhiều TSX trong hệ thống SuaxeOnline thì sẽ mua được máy móc, phụ tùng với giá rẻ hơn nhờ lợi thế của quy mô.
Tiệm sửa xe tăng thu bằng những cách nào?
- Tăng giá dịch vụ, phụ tùng
- Thu hút thêm nhiều khách hàng mới.
- Thuyết phục khách hàng cũ đến thường xuyên hơn
- Thuyết phục khách hàng sửa nhiều hơn trong một lần đến
- Thuyết phục khách hàng thay phụ tùng nhiều hơn trong một lần đến.
Ngoài việc chỉ có thể tăng giá cao hơn thông thường một chút, thì các vấn đề còn lại đều phải giải quyết bằng cách quản trị chất lượng (dịch vụ sửa xe, linh kiện) và quản trị chi phí và marketing. Thông thường ngoài chi phí nhân sự thì chi phí marketing chiếm tỉ trọng rất lớn trong tổng chi phí.
Chi phí marketing cho SO sẽ cực thấp vì
· Online: SO sẽ được lan truyền rất nhanh vì tính khác biệt và duy nhất của nó
· Offline: ngoài việc được “thừa kế” sự nổi tiếng từ Internet thì hệ thống cửa hàng offline lại tiếp tục quảng bá ngược SO lên Internet thông qua bảng hiệu từng cửa hàng chính là tên miền online www.SuaxeOnline.com nên “Ai đi qua cũng phải ngoái nhìn”.
Như vậy SuaxeOnline khác với sửa xe thông thường ở những điểm nào?
1. Thương hiệu
Thương hiệu này đại diện cho sự nhất quán về giá cả, chất lượng dịch vụ, hệ thống nhận diện thương hiệu…
2. Vị trí
Mặt bằng của SuaxeOnline có thể mặt tiền, trong hẻm, thậm chí ở tuốt trên lầu 14 (thợ đến tận nhà khách hàng để sửa xe). Đồng thời do nhượng quyền nên khách hàng khắp nơi đều có thể sử dụng SuaxeOnline.
3. Phương thức tiếp cận khách hàng
· Tiếp cận qua Internet
Khách hàng có thể tìm danh sách các tiệm SuaxeOnline, bảng giá dịch vụ/phụ tùng… trên website.
· Tiếp cận qua mobile
Khi đang đi trên đường bất kỳ nơi nào và bị hư xe, khách hàng có thể gửi tin nhắn “SO” đến đầu số 8777 để nhận được danh sách 3 tiệm SO gần nhất, yên tâm dắt xe đến sửa, hoặc gọi thợ đến sửa tận nơi mà không sợ bị chặt chém.
Bạn nào muốn sử dụng dịch vụ của SuaxeOnline vui lòng để lại email, tôi sẽ gửi newsletter thông báo nhân ngày khai trương tiệm sửa xe đầu tiên.
http://www.facebook.com/note.php?note_id=245485914226
Các bài viết liên quan
· Bài kỳ trước: Internet startup: Dotcom và tiệm sửa xe – phần 2: Mô phỏng tiệm sửa xe
· Bài tiếp theo – Thứ 5: Internet startup: Đi tìm Dream Team
Friday, January 08, 2010
Internet startup: Dotcom và tiệm sửa xe - phần 2: Mô phỏng "tiệm sửa xe"
Tiếp tục theo bài viết Dotcom và tiệm sửa xe – phần 1 nói về những mối tương quan giữa Dotcom và tiệm sửa xe, lần này tôi thử nhìn dotcom dưới góc độ một … chủ tiệm sửa xe. Có thể tôi sẽ có một số cách tiếp cận rất là “ngớ ngẩn”.
Khách hàng offline
Như bài trước tôi đã liệt kê ra 3 vấn đề thường gặp của một dotcom là 1. Thiết thực – không thể thiếu 2. Chi phí/khách hàng 3. Thanh toán.
1. Vấn đề thiết thực
Đây quả là một vấn đề khó giải quyết và không có một mô hình chung cho các Internet startup. Trong bài trước tôi có tóm lại “nếu dotcom nào đó giải quyết được một vấn đề người dùng thực sự cần thì xác suất để phát triển và duy trì khách hàng sẽ cao hơn.” Làm sao để tìm được vấn đề người ta thực sự cần để giải quyết? Tôi cũng không biết. Thử nhìn lại nguồn gốc Facebook, Twitter, Youtube.
Facebook bắt nguồn từ việc Mark Zuckerberg nhìn thấy nhu cầu sử dụng sổ lưu bút, giữ kết nối bạn bè từ thời học trung học nên online hóa thành Facebook.
Twitter ra đời sau khi cofounder nói chuyện với bạn bè và thấy hầu như ai cũng muốn biết về tình hình tin tức hiện tại của bạn mình một cách đơn giản nhất. Giống như chúng ta lâu ngày gặp lại bạn sẽ hỏi: “Khỏe không mày? Có gì mới?”. Twitter là cách giải quyết hai câu hỏi trên: bạn twit thường xuyên người ta sẽ biết bạn đang “khỏe”. Nhìn twit của bạn sẽ biết bạn có gì mới.
Youtube xuất hiện khi hai anh chàng nhân viên Paypal đi ăn tiệc về muốn có một chỗ để chia sẻ ngay những clip mới quay ở party.
Ah, có vẻ tìm ra được một câu trả lời tạm chấp nhận được: phải tìm vấn đề ở offline, ở những nhu cầu của chính bản thân mình và cộng đồng mà mình đang sống. Ví dụ việc sửa xe chẳng hạn. Chuyện gì xảy ra nếu mai bạn ra đường và không thấy tiệm sửa xe nào?
Vậy trong 3 trường hợp trên, tại sao Facebook và Youtube lại rất phổ biến ở VN mà Twitter thì vẫn èo uột. Xem thêm bài về Twitter tại VN của Ngọc Hiếu Ngoài lý do chính là vì Facebook mà tôi đồng ý với Hiếu thì còn lý do sâu xa đằng sau nữa. Biz Stone cofounder Twitter có nói “Twitter đặc biệt thích hợp với những người không có nhiều thời gian”. Ở VN chắc không có nhiều người thiếu thời gian như ở Mỹ.
Tôi cũng đang rảnh rỗi nên mới viết cả bài dài trên Facebook đây :)
Như vậy việc khá nhiều dotcom clone mô hình từ Mỹ không thành công ở VN có thể do họ không bắt đầu từ một nhu cầu thực sự ở VN, hợp với văn hóa VN, chứ không phải từ một nhu cầu ở Mỹ theo phong cách Mỹ.
Bài tôi học: tạo một site đơn giản nhất có thể thể hiện được mong muốn của mình, sau đó phải tìm được ít nhất 10 người thực sự muốn sử dụng, họ cảm thấy rất cần site của tôi chứ không chỉ “tàm tạm đó, thấy cũng hay hay”. Đồng thời dịch vụ site cung cấp phải phù hợp với văn hóa, thói quen của người VN. Nếu đạt được điều đó tôi mới tiếp tục mở rộng, ngược lại tôi sẽ đổi sang hướng khác.
2. Chi phí / khách hàng
Đây là bài toán lớn mà dotcom nào cũng phải đối mặt. Như vậy học từ tiệm sửa xe bằng cách nào? Trong bài trước tôi thấy “Tiệm sửa xe chỉ mở rộng kinh doanh khi doanh thu từ khách hàng cao hơn chi phí, hoặc không quá chênh lệch so với chi phí”. Bằng cách này họ chỉ mở rộng khi họ có lời, hoặc nếu lỗ thì lỗ không đáng kể. Vấn đề của dotcom thường là “Tốc độ chi nhanh hơn rất nhiều so với tốc độ thu” vì “kỳ vọng vào nguồn thu nhập từ lượng lớn khách hàng trong tương lai”.
Vậy thử giải quyết bằng cách “giảm chi”, “tăng thu” và “kỳ vọng ít”: phát triển một Internet startup nhưng “mô phỏng” theo “mô hình hoạt động” của tiệm sửa xe. Với giả thuyết đầu vào tôi có một nhóm bạn bè cùng làm startup và một số vốn khiêm tốn 100-200 triệu/1-2 năm.
Như vậy thay vì kỳ vọng vào lượng khách hàng lớn, và “thêm khách hàng là thêm chi phí” thì tôi sẽ làm ngược lại. Tôi chỉ phát triển một lượng khách hàng trung thành, không cần hàng chục hay hàng trăm ngàn user, mà chỉ cần 1000 hay 100 khách hàng trung thành mỗi ngày mà thôi. Và lượng khách hàng này tôi cũng sẽ tập trung xoay quanh một vị trí địa lý cụ thể - một điểm offline nào đó để dễ thu tiền về sau.
Với marketing online tôi cũng rất tập trụng, chỉ nhắm vào vùng xoay quanh điểm offline và rộng hơn một chút. Ví dụ điểm offline của tôi ở Q.3 thì tôi chỉ vào “lăng xê” nó ở những diễn đàn Sài Gòn, hay những topic liên quan Q.3 mà thôi.
3. Thanh toán
Khi tôi đã có một lượng khách hàng trung thành nhất định, chừng 100 người/ngày tôi sẽ bắt đầu dịch vụ thu tiền. Để làm điều này, tôi mở một văn phòng offline nho nhỏ ở một vị trí mà khách hàng mục tiêu của website hay qua lại. Có thể là trong hẻm, hoặc trên lầu một chung cư nào đó để tối thiểu hóa chi phí. Điểm offline này sẽ là nơi để thu hút những khách hàng qua lại trong vòng bán kinh 300m. Và có hẳn một nhân viên lo “customer service” để tư vấn cho khách hàng offline trực tiếp thay vì online.
Điểm offline này cũng là nơi giải quyết vấn đề thanh toán. Nếu khách hàng chấp nhận và bắt đầu có nguồn thu chứng tỏ mô hình đã hoạt động. Lúc này tôi tiếp tục bắt chước “mở rộng kinh doanh” theo cách của tiệm sửa xe. Tôi chỉ mở rộng quy mô khi một trong hai trường hợp sau xảy ra
- Tôi đã có lời kha khá từ điểm offline đầu tiên.
- Tôi đã có triển vọng doanh thu và có thể gọi vốn từ bên ngoài.
Khi đã có một số vốn đầu tư lớn hơn thì có thể tiếp tục giải quyết vấn đề quy mô & thanh toán bằng những cách sau
- Nhân rộng số điểm offline bằng cách mở chi nhánh hoặc nhượng quyền.
- Dùng cách “cash on delivery”: cung cấp dịch vụ và thu tiền tận nhà.
- Thu tiền qua SMS hay thẻ cào.
- Thu tiền thông qua bưu điện: cách này ở TQ một số dotcom như Ctrip thực hiện, ở VN Vinabook đang sử dụng.
Như vậy cách tiếp cận quy mô nhỏ & offline kiểu ”tiệm sửa xe” này sẽ có hai ưu điểm sau
1. Chi phí thấp - phù hợp với đa số startup.
2. Biết kết quả nhanh - nếu khoảng 1-2 năm mà vẫn không có triển vọng về doanh thu thì gần như dotcom này không có tiềm năng phát triển. Lúc này xoay sang hướng khác thì hơn thay vì cứ đi vào ngõ cụt.
http://www.facebook.com/note.php?note_id=237222829226
Các bài viết liên quan
· Bài kỳ trước: Internet startup: Dotcom và tiệm sửa xe – phần 1
· Bài tiếp theo: Internet startup: Dotcom và tiệm sửa xe – phần cuối: www.SuaXeonline.com
Tuesday, January 05, 2010
Internet startup: Dotcom và tiệm sửa xe
Tôi có cảm hứng viết bài này nhân dịp… phải ngồi ở tiệm sửa xe hơn 30p. Hình như ở VN chuyện phải vào tiệm sửa xe là chuyện không thể không xảy ra với tần suất một hai tháng thì phải?
Nếu xe quá tốt không bị trục trặc thì lâu lâu cũng bị cán đinh, nếu xe không cán đinh thì 3 tháng cũng phải thay nhớt một lần. Nếu không có xe gắn máy mà có xe hơi thì cũng phải vào trạm sửa xe hơi, dù xe gì và nế quá hoàn hảo cộng với may mắn không gặp vấn đề nào ở trên thì vẫn phải đem đi … rửa vì đường xá quá bụi bặm.
Nhìn một vòng các đường phố ở SG, trừ những vùng quá trung tâm như ở Q.1 thì ở đâu cũng có tiệm sửa xe. Các quận gần trung tâm như Q.3 thì dành cho xe hơi nhiều hơn, các quận khác thì đâu cũng có tiệm sửa xe gắn máy. Các tiệm sửa xe mọc lên như nấm, và dường như ít khi nào phải đóng cửa. Có những tiệm phất lên rất nhanh, và nhiều tiệm tuy không phát triển mạnh vẫn sống vô tư qua ngày, tỉ lệ tồn tại phải đến hơn 90%. Ngược lại có rất nhiều dotcom cũng mọc lên như nấm, và rồi từ từ biến mất sau mưa, với tỉ lệ biến mất giống như tỉ lệ tồn tại của tiệm sửa xe. Có vẻ nghịch lý hay không? Khi mà Internet đang là một trào lưu của xã hội, và vấn đề xe cộ ít khi nào được thảo luận ở các nơi đông người tham gia.
Cuối hẻm nhà tôi có một anh chàng chủ một tiệm sửa xe gắn máy. Đầu tiên anh ta thuê một mặt bằng nhỏ khoảng 4x8 ở mặt tiền đường để “khởi nghiệp” cách đây 2, 3 năm. Từ từ tiệm có nhiều khách, anh ta thuê thêm 5,6 người thợ, mở rộng kinh doanh bằng cách bán phụ tùng và linh kiện. Rồi tiệm ngày càng được nhiều người biết đến và có khách quen, khách lạ. Vì thế anh ta lại tiếp tục phát triển với việc thêm người, thuê lại một nhà xưởng ngay bên cạnh diện tích khoảng 5x18 để làm khu rửa xe và trưng bày xe gắn máy.
Cũng với quy trình như trên, hầu hết các dotcom cũng bắt đầu từ một quy mô nhỏ, sau đó có thêm nhiều người truy cập, họ lại tiếp tục thêm người, phát triển sản phẩm, mở rộng dịch vụ. Chỉ khác một điều, khi tiệm sửa xe thêm người, thêm dịch vụ thì công việc kinh doanh của họ ngày càng bền vững hơn. Còn với rất nhiều dotcom, việc thêm người và mở rộng quy mô sản phẩm dịch vụ cũng chưa thể nói trước được điều gì, ngay cả với những tập đoàn lớn đã thành danh. Như vậy đâu là mâu thuẫn trong hiện tượng trên? Thử phân tích vấn đề dưới một vài góc độ offlline.
1. Thiết thực – không thể thiếu
Có lẽ hơn 80% dân số VN có sử dụng xe đạp, xe gắn máy, hoặc xe hơi. Và như tôi đã nói ở trên, ít ra 2-3 tháng mỗi người bắt buộc phải vào tiệm sửa xe một lần hoặc tần suất cao hơn nếu phải bơm xe. Trong khi đó có rất nhiều website Việt mà chẳng ai phải cần vào, và chẳng có lý do gì để “bắt buộc vào”.
Có thể bạn sẽ nói, lập luận của tôi là không logic lắm, vì không vào website này thì sẽ vào website khác. Đồng ý. Nhưng thực tế là có khá nhiều website ra đời không thể kiếm được dù chỉ 5,10 khách hàng đến hàng ngày một cách có chủ ý, và họ cảm thấy website đó là thực sự cần thiết đối với họ, ít có sự thay thế khác.
Trong khi đó một tiệm sửa xe bất kỳ sẽ dễ dàng có 5,10 khách đến hàng ngày vì lý do quan trọng nhất là “vị trí”. Bị bể bánh xe, bơm xe, rửa xe… ai cũng có xu hướng đến tiệm sửa xe gần nhất, nếu tiệm đó không quá tệ. Như vậy có thể nói một tiệm sửa xe trung bình có thể sống qua ngày nhờ vào lượng khách trong vòng bán kính từ 100-300m quanh đó.
Tóm lại : nếu dotcom nào đó giải quyết được một vấn đề người dùng thực sự cần thì xác suất để phát triển và duy trì khách hàng sẽ cao hơn.
2. Chi phí / khách hàng
Như ở trên, với cùng một xu hướng phát triển, khi tiệm sửa xe có thêm khách hàng, điều đó cũng đồng nghĩa với việc có thêm lợi nhuận hoặc ít nhất cũng giảm trừ chi phí (do họ luôn bán linh kiện cao hơn giá vốn, phí sửa xe bù cho phí trả lương nhân viên/mặt bằng). Trong khi đó việc có thêm khách hàng ở hầu hết các công ty dotcom lại luôn đồng nghĩa với việc tăng chi phí tiếp thị, nhân sự, máy chủ …do chỉ có chi phí mà không có thu nhập, hoặc thu nhập rất ít so với chi phí. Dĩ nhiên là trừ một số ít các công ty game online đã có hệ thống kinh doanh rõ ràng và đang gặt hái lợi nhuận.
Một số mạng xã hội tầm vóc khá lớn nay đã gần như mất dạng trên sàn đấu Internet là một ví dụ. Họ đổ ra nhiều tỉ đồng, thu hút hàng trăm ngàn user, sau đó không thể tiếp tục duy trì tốc độ đốt tiền để níu kéo khách hàng cũ hoặc thu hút khách hàng mới. Sẽ có vài nhiều nguyên nhân dẫn đến “cái chết của một dotcom”, nhưng một trong những lý do quan trọng và đến nhanh nhất là “hết tiền”. Với những dotcom có vốn đầu tư ban đầu càng lớn, càng thu hút được nhiều khách hàng thì lý do này càng trở nên quan trọng hơn. Nghịch lý quá nhỉ, càng có nhiều tiền thì lại càng sớm hết tiền. Dĩ nhiên điều này cũng có ngoại lệ, trừ một số dotcom do công ty mẹ có “quá nhiều tiền” thì không thể tính vào trường hợp trên.
Tóm lại : sự khác biệt giữa việc “mạo hiểm” ở các công ty online và sự phát triển bền vững của những tiệm sửa xe có lẽ là do sự chênh lệch giữa thu và chi.
Các dotcom có xu hướng kỳ vọng vào thu nhập sẽ đến từ lượng lớn khách hàng họ có trong tương lai nên thường chi với tốc độ nhanh hơn tốc độ thu rất nhiều. Trong khi với tiệm sửa xe sự phát triển này cân đối hơn, họ chỉ mở rộng kinh doanh khi thu nhập từ khách hàng cao hơn chi phí, hoặc không quá chênh lệch so với chi phí.
3. Thanh toán
Thật ra có nhiều website rất hữu ích, bản thân tôi cũng muốn sử dụng và nếu cần thì sẵn sàng thanh toán để tận hưởng tiện ích từ những website đó đem lại. Tuy nhiên tôi, hoặc những người bạn bè tôi thường gặp hai vấn đề chính: sự bất tiện hoặc thiếu tin cậy.
Bất tiện là khi thanh toán phải qua nhiều bước đăng kí rắc rối, mất thời gian, hoặc khó hiểu… Tôi biết có nhiều người không sẵn sàng thanh toán bằng cách nhắn tin, vì nó không thân thiện với họ. Nói chung cả hai vấn đề này gộp lại là yếu tố không phù hợp văn hóa tiêu dùng của người VN.
Thiếu tin cậy là khi người dùng không dám nhập mã số thẻ tín dụng của họ vào khi sử dụng dịch vụ. Điều này xảy ra ngay cả những website lớn và đã hoạt động khá lâu ở VN. Bản thân tôi cũng vậy, tôi chí dám dùng thẻ tín dụng ở những site uy tín của thế giới. Ở VN chắc tôi mới chỉ dùng thẻ ở mỗi Vietnam Airlines hay Jetstar.
Ngay bản thân chúng tôi đã từng thực hiện một chương trình khuyến mãi nho nhỏ giảm giá phòng khách sạn trên Skydoor.net để test “mô hình kinh doanh”. Để giải quyết vấn đề thanh toán từ phía user, Skydoor phát phiếu khuyến mãi mà không thu tiền từ người dùng. Người dùng sẽ thanh toán trực tiếp với khách sạn. Khách sạn sau đó sẽ chuyển khoản tiền cho Skydoor. Hầu như không gặp vấn đề gì từ phía người dùng (vì đã “né” hẳn việc thanh toán), nhưng gặp khá nhiều rắc rối trong việc thu tiền từ khách sạn. Có khách hàng, có tiện ích nhưng muốn thu tiền cũng không dễ dàng gì.
Trong khi đó với tiệm sửa xe bạn không gặp bất cứ vấn đề gì trong việc thanh toán. Tiền mặt dễ dàng, mọi lúc, mọi nơi. Có vẻ những công ty thành công ít nhất đã giải quyết được vấn đề thanh toán, bằng thẻ cào với B2C như hoặc thanh toán offline trực tiếp với B2B.
http://www.facebook.com/note.php?note_id=233451769226
-------
Bài kỳ trước: 7 dự đoán về Internet Việt Nam 2010
Bài kỳ tới - Thứ 5: Internet startup: Dotcom học tiệm sửa xe
Thursday, December 31, 2009
Internet startup: 7 dự đoán... về Internet Việt Nam 2010
Tiếp tục chương trình R&D cho bản thân về Internet Việt Nam , tôi lại tiếp tục viết tiếp bài thứ 3. Tuy nhiên sau một hồi suy nghĩ đủ thứ chủ đề, tôi chẳng biết bắt đầu từ đâu. Quá nhiều đề tài để phân tích và đánh giá, quá nhiều điều cần phải tìm hiểu. Thôi thì bắt đầu từ yếu tố thời gian, nhân ngày cuối cùng trong năm 2009 tôi thử dự đoán về xu hướng Internet Việt Nam năm 2010.
Theo bạn, đây sẽ là năm “Đại họa” hay “Thăng hoa” của Internet VN?
Chủ đề được quan tâm nhiều nhất
1. Mobile
Nếu như năm 2006-2007 là thời thăng hoa của các công ty Internet startup thì năm 2010 có lẽ là thời “cao điểm” của vật dụng bé nhỏ trong lòng bàn tay: mobile. Mọi thứ sẽ dồn về mobile
Thế giới trong lòng bàn tay
· Danh hiệu “Võ Lâm Ngũ Bá” đã được định hình rõ ràng với vị trí bá chủ thuộc về Viettel, Mobifone, Vinaphone,…. Tuy vậy theo một nguồn tin, sẽ có một tập đoàn viễn thông của Mỹ tiếp tục “Hoa Sơn luận kiếm” với hy vọng tranh bá. Hiện tại số thuê bao di động là hơn 73.2 triệu (hết quý 1 -2009).
· Nếu như năm 2008- 2009 vị trí số một thuộc về dòng điện thoại giá rẻ dưới 2 triệu thì 2010 có lẽ vai trò này sẽ chuyển sang smartphone giá rẻ. Với hơn 50% nhu cầu thị trường quan tâm các điện thoại giá rẻ và thông minh, cùng với năng lực sản xuất của các thương hiệu di động VN và TQ như Q-mobile, F-mobile, Mobell, Welcomm, … cũng như khả năng giảm giá của Nokia, Samsung, LG… thì việc cung cầu hòa hợp không phải là điều ngạc nhiên.
· Iphone đã xác lập vị trí dòng smartphone hot nhất hiện nay. Kế đến Android mới biết đi chập chững đã chiếm khoảng 4% thị phần hệ điều hành cho di động, làn sóng này cũng đang lan dần vào VN với một số dòng của HTC. Các hãng đang phát triển mạnh ở VN như LG, Acer cũng đang chuẩn bị tung ra những chú mobile Android.
· 3G đã được 3 mạng lớn nhất triển khai. Khi mạng đã có đủ, thiết bị đầu cuối đã sẵn sàng, hệ điều hành cũng đầy tiềm năng… nói chung mọi thứ đã có đủ, vậy còn thiếu gì? Đó chính là ứng dụng phần mềm trên điện thoại di động và kế đó là… thói quen sử dụng những ứng dụng đó của người dùng cuối.
· Ngoài ra rất nhiều công ty Internet không giải được bài toán online payment sẽ tìm đến mobile như một cứu cánh. Liệu bài toán “thói quen người dùng Internet” chưa giải được của nhiều công ty sẽ tiếp tục lặp lại ở đề tài “thói quen sử dụng phần mềm Mobile”?
· Ứng dụng mobile với các lĩnh vực như: gaming, mobile internet, search, location-based service… đang là mảnh đất vàng chờ khai phá.
2. Facebook
Facebook thực sự là một hiện tượng của Internet VN 2009 ở khía cạnh mạng xã hội. Điều tôi muốn nói đến hiện tượng Facebook 2010 là khía cạnh marketing-platform.
Rất nhiều công ty Internet sẽ tập trung sử dụng Facebook như một nền tảng tiếp thị để có thể tiếp thị trực tiếp đến khách hàng theo kiểu vết dầu loang. Và kế đến, không chỉ các công ty Internet mà các công ty FMCG (hàng tiêu dùng nhanh) sẽ đổ bộ vào Facebook với các game, các ứng dụng tiện ích giải trí để quảng bá sản phẩm của mình theo mô hình tương tác.
Đơn giản hơn, các công ty chỉ cần đăng kí quảng cáo trên Facebook, hoặc tạo fan page để tiếp cận với những khách hàng đang quan tâm những lĩnh vực, mặt hàng sản phẩm họ đang sản xuất. Lợi thế của Facebook lúc này là kho thông tin cá nhân của người dùng.
Rồi những bạn trẻ năng động chuyên bán hàng qua mạng thông qua những website như 5giay, chodientu, vatgia, 123mua … cũng sẽ tạo lập một địa chỉ tương tác như group, fanpage để bắt đầu bán hàng qua Facebook. Lúc này Facebook không chỉ là đối thủ của Zing Me.
Kế đến các lập trình viên tài giỏi muốn chứng thực tài năng, hoặc muốn bắt đầu startup với một chi phí tối thiểu thì Facebook là một nơi tuyệt vời. Không cần phải là chuyên gia về PR/Marketing, không cần tốn công sức cho SEO, chỉ cần một ý tưởng những gì bạn bè xung quanh cần, và một khả năng hiện thực ý tưởng là bạn có thể start! Thậm chí không cần tạo website riêng.
Tuy nhiên, nếu Facebook bị cấm thì đó thực sự là đại họa cho Internet VN. Cơ hội thì cũng có nhưng tôi chắc khó tận dụng được.
Kế đến, thử tiếp tục dự đoán xu hướng các khía cạnh khác
3.· Mô hình kinh doanh
Vấn đề chính của Internet VN 2009 cũng như 2008 là vấn đề mô hình kinh doanh. Kiếm tiền bằng cách nào và kế tiếp là thu tiền từ khách hàng như thế nào luôn là 2 câu hỏi lớn nhất của hầu hết các dotcom. Một khi chưa có một công cụ thanh toán trực tuyến nào có khả năng “nhất thống giang hồ”, quy người dùng về một mối thì … Nhưng thật ra online payment không phải là vấn đề chính. Vấn đề có vẻ ở tự thân của từng dotcom.
Cuối năm 2004 tôi có dịp đến Tokyo. Lúc đó tôi được biết rakuten là mạng e-commerce lớn nhất Nhật Bản. Rakuten là “hàng hóa” thì phải. Tôi hỏi “Khách hàng thanh toán bằng cách nào?” thì được biết cách phổ biến nhất vẫn là “Cash on delivery” – “thu tiền khi giao hàng tận nhà” chứ không phải thẻ tín dụng. Nhật còn như vậy thì theo bạn bao lâu việc thanh toán bằng thẻ ở VN sẽ trở nên phổ biến? Theo tôi được biết thì founder vatgia.com là người từng học tập làm việc ở Nhật về, có vẻ vatgia sẽ đi theo mô hình Rakuten. Ngoài ra Vinabook cũng đang thực hiện hình thức thu tiền kiểu này, hoặc thông qua bưu điện. Ngoài ra khá nhiều công ty Internet TQ đã có những cách thức "go offline" khá hiệu quả.
Các công ty và sản phẩm trong lĩnh vực càng gần với offline như mobile, bán sách, chứng khoán, … sẽ có nhiều cơ hội thể hiện mình hơn các lĩnh vực thuần online. Điều này cũng đồng nghĩa với việc nhiều công ty kiên quyết tử thủ để bảo vệ tinh thần “pure online” theo “kiểu Mỹ” sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Kiểu TQ chắc là hợp với VN hơn! Hãy thử tưởng tượng nếu VinaGame không có hệ thống phân phối, thu tiền offline bằng thẻ, BGĐ ngồi chờ đến khi hạ tầng thanh toán trực tuyến hoàn chỉnh, thì liệu có được một VinaGame như ngày nay?
4.· Người dùng Internet
Người dùng luôn là vấn đề dễ nhất và khó nhất. Dễ vì nhiều khi chính bạn đã là người dùng Internet, lấy suy nghĩ của bản thân bạn cũng có thể hiểu được “insight” chung của đa số.
Nhiều công ty kêu than rất khó để thay đổi thói quen của người sử dụng, cũng như làm sao để dụ dỗ họ thanh toán trực tuyến (trong đó có chúng tôi). Nhưng thực tế nhìn nhận rất nhiều công ty (trong đó có cả chúng tôi) đánh đố người sử dụng theo cách này hoặc cách khác.
Ví dụ các mạng thanh toán trực tuyến tại VN, ngay cả bản thân tôi lúc muốn dùng thử đã thấy lùng bùng, rắc rối, khó sử dụng và bất tiện thì làm sao một người không am hiểu Internet có thể thích thú nổi?
Như vậy, theo tôi năm 2010 người dùng có thay đổi hay không còn tùy thuộc vào chính bản thân các cty dotcom có tự thay đổi trước để tìm ra những cách thức sáng tạo và phù hợp thực tế hơn hay không.
5.· Nhân sự
Xu hướng dịch chuyển sẽ thể hiện rõ nét trong năm 2010. Điều này có thể do 3 yếu tố chính
1. Các tập đoàn lớn đẩy mạnh phát triển sản phẩm mới
Trước sức ép ngày càng tăng của những người khổng lồ từ nước ngoài nên không còn cách nào khác, họ phải tập trung mọi nguồn lực để tự vệ. Ngoài ra họ cũng muốn tìm những nguồn thu thay thế cho mảng game online.
2. Thị trường gia công phần mềm thế giới đang dần phục hồi.
4. Khá nhiều công ty Internet do khủng hoảng phải thu hẹp hoạt động hoặc đóng cửa.
6.· Công nghệ
Cloud-computing được nhiều dự báo sẽ “hot” ở VN vào 2010, tuy nhiên theo tôi có lẽ cloud chỉ là xu hướng của thế giới. Công nghệ Internet ở VN thường đi gần với nhu cầu thực tế thị trường VN. Nên suy ra các công nghệ trên nền mobile, cụ thể là Iphone/Symbian/Android và công nghệ … viết ứng dụng trên platform Facebook sẽ có ưu thế chủ đạo.
7.· Marketing & Quảng cáo trực tuyến
Như đã nói ở phần trên, vì xu hướng Facebook trở thành marketing platform, nên các hoạt động phổ biến của Internet Marketing như SEO Google-oriented sẽ suy giảm, nhường chỗ cho các hoạt động tương tác Facebook-oriented.
Tuy các dạng SEO Google sẽ không được nhiều quan tâm như trước, nhưng quảng cáo cost-per-click của Adword sẽ nhiều khả năng trở thành một trào lưu mạnh mẽ với các công ty offline. Nếu các mạng quảng cáo lớn của VN không có được một mô hình quảng cáo mới đúng với nhu cầu của khách hàng là “hiệu quả trên chi phí” thay vì những con số Alexa, pageview bóng bẩy thì e là doanh số vốn đã không lớn của quảng cáo trực tuyến VN sẽ từ từ chạy vào túi của Google và Facebook hết.
http://www.facebook.com/note.php?note_id=225923874226
--------------------------------
Bài trên chỉ là ý kiến chủ quan của cá nhân tôi, sẽ có sai sót hoặc thông tin chưa đầy đủ.
Bài kỳ trước: Internet startup: Bí kíp kỳ hoa dị thảo từ Kiếm hiệp Kim Dung
Bài kỳ tới: Viết gì đây?
Posted by nm at 9:42 PM 0 comments
Labels: Dự đoán 2010, facebook, internet startup, Internet VN, mobile
Tuesday, December 29, 2009
Internet Việt Nam - Bí kíp Kỳ hoa dị thảo từ Kiếm hiệp Kim Dung
Mấy ngày nay thỉnh thoảng tôi có dịp tái ngộ với bộ phim Anh hùng xạ điêu trên kênh HTV7 vào lúc 11h15 buổi tối. Bộ phim với những tình tiết rượt đuổi hồi hộp và gay cấn giữa những nhân vật nổi danh giang hồ như Tây độc Âu Dương Phong, Hoàng Dung, Quách Tĩnh… khiến tôi nhớ lại ngày xưa khi tôi mới bắt đầu đọc tiểu thuyết Kim Dung.
Thần điêu đại hiệp Dương Qua và Tiểu Long Nữ
Tiếu ngạo giang hồ
Lúc đó cách đây khoảng 7,8 năm. Bộ đầu tiên tôi đọc là Tiếu ngạo giang hồ. Dạo đó sau khi làm việc tôi thường ở lại công ty, và ngủ tại đó luôn. Không phải chuyện lạ, vì có tới 3,4 bạn đồng nghiệp khác của tôi cũng ở lại công ty. Sau khi đọc hết hơn 100 chương của Tiếu ngạo giang hồ, đã “quen biết” thân tình với Lệnh Hồ Xung thì tôi tiếp tục “luyện” tiếp Anh hùng xạ điêu, Thiên long bát bộ, … Nhưng thật ra lần đầu tiên tôi biết đến các câu chuyện của Kim Dung là hồi nhỏ khi xem bộ phim Võ Lâm Ngũ Bá.
Quả là rất khó tránh nổi cám dỗ chết người từ những câu chuyện có sức hút kì lạ của Kim Dung. Ông luôn có cách đưa đẩy người đọc đi theo nhân vật vào những tình tiết kịch tính đến tột cùng. Chẳng hạn Thần điêu Đại hiệp Dương Quá vì một mối ân tình khó phai và dòng chữ hiểu nhầm đã chờ đợi, tìm kiếm Tiểu Long Nữ đến gần 20 năm trời mới gặp được trong Tuyệt Tình Cốc. Hay Nhạc Bất Quần – sư phụ của Lệnh Hồ Xung thậm chí ngay cả việc “tự hoạn” ông ta cũng dám làm chỉ để luyện Tịch Tà Kiếm Phổ. Rồi Vi Tiểu Bảo trên đường hộ tống công chúa Kiến Ninh đi Vân Nam cưới con Ngô Tam Quế đã “yêu” luôn công chúa, sau đó Vi Tiểu Bảo có tổng cộng 7 cô vợ đều là giai nhân tuyệt thế và vài cô võ công thậm chí cao cường hơn Vi Tiểu Bảo nhiều.
Lúc đó tôi không thể cưỡng lại sức cám dỗ từ các bộ truyện nhiều tập của Kim Dung, buổi tối nhiều hôm tôi thức đến 2,3 giờ sáng mà rất khó dứt ra được, chỉ để đọc các trường thiên tiểu thuyết này. Sau vài tháng tôi đã tu luyện xong tất cả 15 bộ Kim Dung, mỗi bộ từ 70 – 150 chương, mỗi chương vài chục trang. Lúc đó tôi cũng tự bái phục “nội công thâm hậu” của mình J Trước đó tôi từng nghĩ chắc chả có thứ gì ghê gớm mà thu hút mình đến nỗi không thể dứt ra được như vậy. Cuối cùng tôi đã có thực chứng!
Sau này thấy rất nhiều người mê đắm điên đảo game Võ Lâm Truyền Kỳ (VLTK), tôi cũng có thể hiểu được đôi phần và “đồng cảm” với các “đồng đạo” võ lâm này, dù tôi chưa có cơ hội chơi VLTK lần nào. Có thể nói Kim Dung là “anh hùng tạo thời thế”, ông không chỉ tạo ra thời thế, mà tạo ra cả một thế giới mới mà hàng chục triệu người say đắm, hàng trăm công ty có thể “ăn theo” và tạo đà chạy cho cả một nền công nghiệp game online của VN (VLTK của Vinagame, Thiên Long Bát Bộ của FPT), rồi kế tiếp là cả ngành Internet VN. Tuy game online có những mặt trái của nó, nhưng dù sao cũng phải “Cám ơn Kim Dung”!
Phát hiện võ lâm bí kíp
Sau khi luyện hết 15 bộ Kim Dung, hồi tưởng lại, bỗng dưng tôi thấy một phát hiện thú vị. Đó là tất cả các nhân vật của Kim Dung đều rất trẻ, và họ gặt hái thành công từ rất sớm. Thú vị kế tiếp là dường như có một công thức chung cho cả bọn họ, mà tôi gọi đó là “Bí kíp kỳ hoa dị thảo”.

Lệnh Hồ Xung & Nhậm Doanh Doanh
Quách Tĩnh dường như có kỳ duyên với hầu hết các guru trong 5 ngũ bá võ lâm. Anh là đệ tử Bắc Cái Hồng Thất Công, bạn thân của Châu Bá Thông, con rể Đông tà Hoàng Dược Sư. Quách Tĩnh tuy tính cách khờ khạo nhưng có một ngộ tính rất cao về võ học và có thể học được những loại công phu khó nhất như Giáng Long Thập Bát Chưởng, hay Cửu âm Chân kinh. Tương tự là Lệnh Hồ Xung, chỉ trong 3 ngày Hồ Xung đã thẩm thấu được Độc cô cửu kiếm từ Phong Thanh Dương. Sau đó Lệnh Hồ Xung còn được một cao thủ truyền 50 năm công lực, nuốt nhầm một loại rắn cực độc (tôi không nhớ tên) mà sau đó công lực lại tăng thêm mấy thành, không sợ độc chất làm hại nữa.
Hay như Vi Tiểu Bảo, nhân vật đặc biệt nhất trong các nhân vật chính của Kim Dung, võ công vốn thường thường bậc trung, nhưng lại có khả năng ứng biến cực hay. Vi Tiểu Bảo có hai mối quan hệ thay đổi cuộc đời, một là tình bạn với vua Khang Hy, hai là ân tình với bang chủ Thiên Địa Hội – Trần Cận Nam. Hai nhân vật lớn đối địch nhau nhưng lại đều là chỗ thâm giao của Vi Tiểu Bảo.
Đi tìm “Kỳ hoa dị thảo”
Bí kíp Kỳ hoa dị thảo có 3 thành tố chính
1. Nhân vật tự thân phải có “ngộ tính” cực cao về võ học.
2. Nhân vật có “sư phụ” là bá chủ giang hồ hoặc là người thân của một võ lâm bang chủ nào đó.
3. Nhân vật tình cờ rơi xuống cốc thẳm, kỳ duyên nhặt được nhân sâm ngàn năm.
Nói thế không phải tôi xúi bạn lang thang lên Tây Nguyên hay Mộc Châu để tìm hang sâu núi cao đâu nhé. Càng không phải tôi xúi bạn đi tìm cưa cẩm con gái của một đại tỉ phú nào đó, vì Hoàng Dung yêu Quách Tĩnh vì QT … khờ chứ không phải vì QT khôn, Nhậm Doanh Doanh con Nhậm Ngã Hành mê Lệnh Hồ Xung vì lương duyên trời định chứ không phải “người định”. Coi chừng phản tác dụng!
Nhìn lại ngành công nghiệp Internet thế giới, có vẻ bí quyết này cũng ứng nghiệm không ngờ với những nhân vật lớn. Bill Gates nếu không mua lại “Cửu âm chân kinh” Q-DOS từ Tim Paterson của Seattle Computer, không được đại sư phụ IBM đỡ đầu thì liệu có một Microsoft độc bá như vậy không? Các Google founder sau rất nhiều lần thất bại, nếu không gặp Andy Bechtolsheim – Co-founder của Sun Microsystems bỏ 100.000$ đầu tư mạo hiểm, không mời được Eric Smith lúc đó là CEO của Novell về làm CEO thì có phát triển mạnh như ngày nay?
Ngay như Zuckerberg của Facebook, nếu không nhặt được “nhân sâm ngàn năm”, một sự may mắn nào đó khiến cho sản phẩm bắt đúng nhu cầu của hàng trăm triệu người toàn cầu, thì cũng khó trở thành một hiện tượng như vậy.
Chuyện may mắn có vẻ không khoa học lắm, nhưng tôi từng đọc một bài viết của một vị trưởng khoa quản trị kinh doanh của học viện công nghệ Massachuset (MIT). Ông này đã nghiên cứu về thành công của rất nhiều doanh nghiệp Internet của Mỹ và rút ra kết luận “May mắn là một yếu tố quan trọng không thể thiếu”.
Còn tại Việt Nam thì sao, theo bạn bí kíp “Kỳ hoa dị thảo” có đúng với những công ty hay tập đoàn đã rất thành công?
Bài kỳ trước: 2009 – Chặng đường đã qua