Tuesday, February 23, 2010

Startup Vietnam – To hơn, nhỏ đi!

Trên thế giới, từ trước giờ các công ty trong lĩnh vực công nghệ và Internet đều có thể chia theo một số loại như phần cứng, phần mềm, Internet, sản xuất điện thoại, mạng điện thoại, nội dung số.

Ngoài ra về khía cạnh sản phẩm thì các tập đoàn châu Á đa số đều đi theo hướng đa dạng hóa như Sony, Samsung, LG.... Các tập đoàn Âu, Mỹ hầu như đi theo hướng chuyên môn hóa như Nokia, Dell, Google…

Thỉnh thoảng chỉ thấy ngoại lệ như Microsoft nhảy vào lĩnh vực phần cứng với Xbox, Zune nhưng không thành công mấy. Độc đáo nhất chỉ có Apple có thể chiến thắng trên hầu hết các mặt trận mà họ tham gia với máy Mac, iPod, iPhone, iTunes, AppStore…



Thế nhưng với hàng loạt động thái một vài năm gần đây của các tập đoàn lớn cả Âu lẫn Á và ngay ở VN cho thấy không có hàng rào nào ngăn cản họ tiến sang những sân chơi khác. Kẻ đang ở dưới biển thì lên rừng, kẻ ở rừng thì… bay lên trời.

· Google với Android/Voice/Nexus One, Amazon với Kindle
· Nokia với Ovi/ Tablet 3G, Samsung với Bada
· Dell, Asus, Acer, FPT cũng sản xuất điện thoại.
· Viettel sản xuất máy tính, điện thoại di động, tham gia Internet, ứng dụng mobile…

Sắp tới ai biết được điều gì sẽ xảy ra??? Biết đâu Apple lại tung ra một mạng xã hội mới dạng love-matching dành riêng cho những người dùng Mac + iPhone + iPad vốn là những người có điểm chung “cá tính, đam mê, thu nhập cao”? Hay Facebook buồn tình tung ra một hệ điều hành web FaceOS, hoặc một FacePad gì đó chỉ dùng cho các hoạt động của các user trên Facebook platform? Ở VN thì Viettel có vẻ không ngần ngại khi tham gia bất cứ mảng nào họ thấy có lợi nhuận.

Những hoạt động này cho thấy các công ty chuyển từ việc tận dụng các lợi thế chiều dọc/ chuyên sâu một loại sản phẩm/công nghệ sang lợi thế chiều ngang/quy trình - tham gia vào tất cả các bước liên quan trong hoạt động hàng ngày của người sử dụng mà không cần biết đó là cứng, mềm hay mạng… Miễn là họ có đủ nguồn lực: tiền, nhân sự và họ biết sẽ có một lượng lớn khách hàng cũ sẽ sử dụng sản phẩm mới của họ.

Những điều trên có vẻ vĩ mô và chung chung quá, vậy chúng có ảnh hưởng gì đến Internet VN và những người đang làm việc trong lĩnh vực CNTT & Internet?

Với ngành Internet Việt Nam

+ Tiền vào nhiều hơn
Tổng doanh thu của ngành công nghiệp nội dung số VN năm 2008 là 170 triệu USD, khoảng 3.200 tỉ. Trong khi đó chỉ cần Viettel tung 30% lợi nhuận của 10.000 tỉ vào đã khiến số tiền trên tăng gấp đôi. Và ai biết Mobifone, Vinaphone, Beeline… sẽ không tiếp bước Viettel?

Từ đó một số công ty con/startup lại có lợi khi làm sub-contract/partner hay M&A cho các đại gia mới gia nhập ngành muốn mua thời gian. Rồi một số công ty mobile apps/ marketing/content lại ra đời thúc đẩy tăng trưởng của mảng này.

+ Cạnh tranh khốc liệt hơn
Dĩ nhiên đi đôi với tiền là vũ khí. Các công ty phải cạnh tranh nhau khốc liệt hơn nhiều. Viettel chưa cần phô diễn các thế mạnh về người dùng, hệ thống phân phối… mà chỉ vác bọc tiền ra là đủ “lấy tiền đè người” rồi.

Tiếp theo trước đây các đối thủ dùng cùng loại vũ khí để đánh nhau trên một sàn đấu, thì giờ đây không còn luật lệ đó nữa. Ai có súng dùng súng, ai có dao dùng dao, ai có … đủ thứ thì lôi ra chơi luôn một lần. Rõ ràng ai có nhiều “hàng” hơn có xác suất “tấn công” nhiều user hơn, ít nhất là so với bản thân họ lúc trước.

Với nhân sự Internet Việt Nam

+ Có nhiều việc làm hơn
Nếu trước đây lập trình viên, những người làm nội dung số… chỉ có thể vào ra các công ty Internet là chính, giờ đây họ có thể ứng tuyển vào mạng di động, vào các công ty sản xuất điện thoại (nội dung số).

+ Mặt bằng lương cao hơn, luân chuyển nhiều hơn
Lượng công việc nhiều hơn, tiền vào nhiều hơn, mà số người có thể tham gia làm việc ngay không thay đổi mấy, vậy chuyện gì sẽ xảy ra?

Với người dùng cuối

+ Nhiều hơn, tiện hơn, rẻ hơn
Trước đây họ lướt web bằng máy tính, giờ có thể lướt mobile web hoặc tablet, iPad. Trước đây phải xài ADSL thì giờ vô tư không cần dây với 3G. Trước đây sms phải nhắn tin tốn tiền, giờ dùng ViTalk hoặc Ola… hay vào Dailyinfo của Viettel để có 5 tin free mỗi ngày. Quá sướng!

Với các công ty thông thường

+ Tiếp cận khách hàng trên nhiều kênh hơn
Nếu trước đây họ chỉ có mỗi kênh Internet thì giờ đây họ có thể chọn thêm mobile. Như vậy có thêm sự lựa chọn rất hấp dẫn này, nhiều khả năng các công ty sẽ tăng tỉ trọng chi cho tiếp thị số. Nhờ vậy dòng tiền lại tiếp tục chạy vào ngành như phần trên đã nói.


Cuối cùng, có vẻ Internet VN đang bắt đầu tăng tốc lớn lên. Biên giới giữa các mảng Internet, di động, phần cứng, phần mềm …đã bị xóa bỏ. Thế giới đang thu hẹp lại, nhỏ đi!

http://www.facebook.com/note.php?note_id=321465094226

Bài kỳ trước: Startup Vietnam: 7 yếu tố của một hệ thống bền vững

Bài liên quan: 7 dự đoán về Internet Việt Nam 2010

Tuesday, January 12, 2010

Internet startup: Dotcom và tiệm sửa xe – phần cuối: www.SuaxeOnline.com

Một hôm tôi bỗng nổi hứng giã từ sự nghiệp Internet startup để giải nghệ và mở tiệm sửa xe (TSX). Ngoài những lợi thế của TSX trong bài trước, tôi phát hiện ra TSX có một vấn đề chung với dotcom là niềm tin và một góc độ kém hẳn so với dotcom là thương hiệu.



Lợi thế của Internet

Niềm tin là khi bạn đi đâu đó và bị hư xe, bạn muốn sửa xe nhưng không biết nên vào tiệm nào, vì khả năng bạn bị chặt chém là khá cao. Đặc biệt là khi bạn bị cán đinh, một xác suất khá cao khi bạn dắt xe vào các tiệm ven đường là bị họ làm đứt luôn chỗ nối van xe và ruột xe để thay mới với giá cắt cổ.

Vấn đề thương hiệu là có vô số tiệm sửa xe, và bạn không biết tiệm nào thật sự uy tín. Chỉ khi bạn nghe người quen giới thiệu một tiệm nào đó ở gần nhà thì bạn mới tạm yên tâm về chất lượng dịch vụ, giá cả.

Để giải quyết vấn đề niềm tin, cần phải tạo một dịch vụ uy tín, giá cả rõ ràng, có thương hiệu hẳn hoi. Để giải quyết vấn đề thương hiệu, tôi đem dịch vụ này lên Internet. Vì thế tôi mở một dotcom: www.SuaxeOnline.com Thật ra đây không phải là một dotcom, tôi chỉ lấy những lợi thế của một dotcom áp vào một mô hình thực tế để có thể nhìn nhận rõ một khía cạnh “quyền lực” của dotcom mà thôi.

Khởi nghiệp

Ban đầu tôi dự tính mở một tiệm nho nhỏ ở mặt tiền đường gần nhà, nhưng phải cách xa tiệm của anh chàng cùng hẻm một khoảng hơn 300m để tránh cạnh tranh trực tiếp. Sau đó suy đi nghĩ lại tôi thấy tự mình làm ăn kiểu này không ổn. Tôi quyết định mời anh ta tham gia hùn vốn, làm co-founder :p Lúc đầu anh ta ngần ngừ không muốn hợp tác, vì tự anh ta đã đang ăn nên làm ra. Nhưng tôi lấy lý do khả năng mở rộng ra nhiều tiệm, và khả năng xây dựng một thương hiệu sửa xe nổi tiếng cả nước ra thuyết phục, cuối cùng anh ta cũng xiêu lòng.

Thật là may mắn, bộ sậu tạm ổn. Vì tôi chỉ hiểu biết về Internet và một chút ít về quản trị, thương hiệu. Nếu tôi tự mình dấn thân vào lĩnh vực này sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Còn anh ta là một chuyên gia trong lĩnh vực “sửa xe”. Có vẻ chúng tôi có một “Dream Team” rồi.

Kế hoạch của chúng tôi khá đơn giản, ban đầu chúng tôi phát triển một tiệm sửa xe như mô hình anh chàng kia đã làm, chỉ khác một chút: tiệm có một bảng hiệu rất oách www.SuaxeOnline.com và sẽ dùng những lợi thế của Internet để marketing và thu hút khách hàng. Điều này có vẻ khá dễ dàng, vì gần như trên Internet dịch vụ này là độc nhất vô nhị, thế nào mọi người cũng truyền miệng khắp nơi, và báo chí rồi sẽ đến viết bài ầm ầm :P

Sau đó chúng tôi sẽ gọi vốn đầu tư và phát triển mô hình nhượng quyền thương hiệu kiểu như Thegioididong.com. Hiện giờ Thegioididong có hơn 40 cửa hàng trên khắp cả nước sau nhiều năm hoạt động, với mô hình này tôi e là SuaxeOnline có thể phát triển đến 4000 cửa hàng toàn quốc chỉ trong vòng 5-10 năm chứ chả chơi.

Mô hình nhượng quyền thật ra không hề đơn giản, phải quản lý đủ thứ vấn đề: nguồn cung cấp, tiếp thị… và đặc biệt là quản lý sự nhất quán của toàn hệ thống. Nhưng thôi, đây là một vấn đề lớn ngoài chủ đề của bài này. Thử phân tích khả năng thương mại hóa của www.SuaxeOnline.com (SO) xem sao. Xét đến khả năng “tăng thu”, “giảm chi”.



Tiệm sửa xe giảm chi bằng cách nào?

Thông thường tiệm sửa xe chi vào những khoản sau
- Mặt bằng
- Máy móc thiết bị
- Nhân sự
- Chi phí mua phụ tùng

Để giảm chi => thuê mặt bằng trong hẻm, hoặc sửa xe tận nơi. Điều này khác với các TSX thông thường hay nằm ở mặt tiền. Các yếu tố khác cũng như TSX thông thường, chỉ khác chỗ khi nào có nhiều TSX trong hệ thống SuaxeOnline thì sẽ mua được máy móc, phụ tùng với giá rẻ hơn nhờ lợi thế của quy mô.

Tiệm sửa xe tăng thu bằng những cách nào?

- Tăng giá dịch vụ, phụ tùng
- Thu hút thêm nhiều khách hàng mới.
- Thuyết phục khách hàng cũ đến thường xuyên hơn
- Thuyết phục khách hàng sửa nhiều hơn trong một lần đến
- Thuyết phục khách hàng thay phụ tùng nhiều hơn trong một lần đến.

Ngoài việc chỉ có thể tăng giá cao hơn thông thường một chút, thì các vấn đề còn lại đều phải giải quyết bằng cách quản trị chất lượng (dịch vụ sửa xe, linh kiện) và quản trị chi phí và marketing. Thông thường ngoài chi phí nhân sự thì chi phí marketing chiếm tỉ trọng rất lớn trong tổng chi phí.

Chi phí marketing cho SO sẽ cực thấp vì

· Online: SO sẽ được lan truyền rất nhanh vì tính khác biệt và duy nhất của nó
· Offline: ngoài việc được “thừa kế” sự nổi tiếng từ Internet thì hệ thống cửa hàng offline lại tiếp tục quảng bá ngược SO lên Internet thông qua bảng hiệu từng cửa hàng chính là tên miền online www.SuaxeOnline.com nên “Ai đi qua cũng phải ngoái nhìn”.

Như vậy SuaxeOnline khác với sửa xe thông thường ở những điểm nào?

1. Thương hiệu
Thương hiệu này đại diện cho sự nhất quán về giá cả, chất lượng dịch vụ, hệ thống nhận diện thương hiệu…

2. Vị trí
Mặt bằng của SuaxeOnline có thể mặt tiền, trong hẻm, thậm chí ở tuốt trên lầu 14 (thợ đến tận nhà khách hàng để sửa xe). Đồng thời do nhượng quyền nên khách hàng khắp nơi đều có thể sử dụng SuaxeOnline.

3. Phương thức tiếp cận khách hàng
· Tiếp cận qua Internet
Khách hàng có thể tìm danh sách các tiệm SuaxeOnline, bảng giá dịch vụ/phụ tùng… trên website.
· Tiếp cận qua mobile
Khi đang đi trên đường bất kỳ nơi nào và bị hư xe, khách hàng có thể gửi tin nhắn “SO” đến đầu số 8777 để nhận được danh sách 3 tiệm SO gần nhất, yên tâm dắt xe đến sửa, hoặc gọi thợ đến sửa tận nơi mà không sợ bị chặt chém.

Bạn nào muốn sử dụng dịch vụ của SuaxeOnline vui lòng để lại email, tôi sẽ gửi newsletter thông báo nhân ngày khai trương tiệm sửa xe đầu tiên.

http://www.facebook.com/note.php?note_id=245485914226

Các bài viết liên quan

· Bài kỳ trước: Internet startup: Dotcom và tiệm sửa xe – phần 2: Mô phỏng tiệm sửa xe
· Bài tiếp theo – Thứ 5: Internet startup: Đi tìm Dream Team

Friday, January 08, 2010

Internet startup: Dotcom và tiệm sửa xe - phần 2: Mô phỏng "tiệm sửa xe"

Tiếp tục theo bài viết Dotcom và tiệm sửa xe – phần 1 nói về những mối tương quan giữa Dotcom và tiệm sửa xe, lần này tôi thử nhìn dotcom dưới góc độ một … chủ tiệm sửa xe. Có thể tôi sẽ có một số cách tiếp cận rất là “ngớ ngẩn”.

Khách hàng offline

Như bài trước tôi đã liệt kê ra 3 vấn đề thường gặp của một dotcom là 1. Thiết thực – không thể thiếu 2. Chi phí/khách hàng 3. Thanh toán.


1. Vấn đề thiết thực

Đây quả là một vấn đề khó giải quyết và không có một mô hình chung cho các Internet startup. Trong bài trước tôi có tóm lại “nếu dotcom nào đó giải quyết được một vấn đề người dùng thực sự cần thì xác suất để phát triển và duy trì khách hàng sẽ cao hơn.” Làm sao để tìm được vấn đề người ta thực sự cần để giải quyết? Tôi cũng không biết. Thử nhìn lại nguồn gốc Facebook, Twitter, Youtube.

Facebook bắt nguồn từ việc Mark Zuckerberg nhìn thấy nhu cầu sử dụng sổ lưu bút, giữ kết nối bạn bè từ thời học trung học nên online hóa thành Facebook.

Twitter ra đời sau khi cofounder nói chuyện với bạn bè và thấy hầu như ai cũng muốn biết về tình hình tin tức hiện tại của bạn mình một cách đơn giản nhất. Giống như chúng ta lâu ngày gặp lại bạn sẽ hỏi: “Khỏe không mày? Có gì mới?”. Twitter là cách giải quyết hai câu hỏi trên: bạn twit thường xuyên người ta sẽ biết bạn đang “khỏe”. Nhìn twit của bạn sẽ biết bạn có gì mới.

Youtube xuất hiện khi hai anh chàng nhân viên Paypal đi ăn tiệc về muốn có một chỗ để chia sẻ ngay những clip mới quay ở party.

Ah, có vẻ tìm ra được một câu trả lời tạm chấp nhận được: phải tìm vấn đề ở offline, ở những nhu cầu của chính bản thân mình và cộng đồng mà mình đang sống. Ví dụ việc sửa xe chẳng hạn. Chuyện gì xảy ra nếu mai bạn ra đường và không thấy tiệm sửa xe nào?

Vậy trong 3 trường hợp trên, tại sao Facebook và Youtube lại rất phổ biến ở VN mà Twitter thì vẫn èo uột. Xem thêm bài về Twitter tại VN của Ngọc Hiếu Ngoài lý do chính là vì Facebook mà tôi đồng ý với Hiếu thì còn lý do sâu xa đằng sau nữa. Biz Stone cofounder Twitter có nói “Twitter đặc biệt thích hợp với những người không có nhiều thời gian”. Ở VN chắc không có nhiều người thiếu thời gian như ở Mỹ.
Tôi cũng đang rảnh rỗi nên mới viết cả bài dài trên Facebook đây :)

Như vậy việc khá nhiều dotcom clone mô hình từ Mỹ không thành công ở VN có thể do họ không bắt đầu từ một nhu cầu thực sự ở VN, hợp với văn hóa VN, chứ không phải từ một nhu cầu ở Mỹ theo phong cách Mỹ.

Bài tôi học: tạo một site đơn giản nhất có thể thể hiện được mong muốn của mình, sau đó phải tìm được ít nhất 10 người thực sự muốn sử dụng, họ cảm thấy rất cần site của tôi chứ không chỉ “tàm tạm đó, thấy cũng hay hay”. Đồng thời dịch vụ site cung cấp phải phù hợp với văn hóa, thói quen của người VN. Nếu đạt được điều đó tôi mới tiếp tục mở rộng, ngược lại tôi sẽ đổi sang hướng khác.

2. Chi phí / khách hàng

Đây là bài toán lớn mà dotcom nào cũng phải đối mặt. Như vậy học từ tiệm sửa xe bằng cách nào? Trong bài trước tôi thấy “Tiệm sửa xe chỉ mở rộng kinh doanh khi doanh thu từ khách hàng cao hơn chi phí, hoặc không quá chênh lệch so với chi phí”. Bằng cách này họ chỉ mở rộng khi họ có lời, hoặc nếu lỗ thì lỗ không đáng kể. Vấn đề của dotcom thường là “Tốc độ chi nhanh hơn rất nhiều so với tốc độ thu” vì “kỳ vọng vào nguồn thu nhập từ lượng lớn khách hàng trong tương lai”.

Vậy thử giải quyết bằng cách “giảm chi”, “tăng thu” và “kỳ vọng ít”: phát triển một Internet startup nhưng “mô phỏng” theo “mô hình hoạt động” của tiệm sửa xe. Với giả thuyết đầu vào tôi có một nhóm bạn bè cùng làm startup và một số vốn khiêm tốn 100-200 triệu/1-2 năm.

Như vậy thay vì kỳ vọng vào lượng khách hàng lớn, và “thêm khách hàng là thêm chi phí” thì tôi sẽ làm ngược lại. Tôi chỉ phát triển một lượng khách hàng trung thành, không cần hàng chục hay hàng trăm ngàn user, mà chỉ cần 1000 hay 100 khách hàng trung thành mỗi ngày mà thôi. Và lượng khách hàng này tôi cũng sẽ tập trung xoay quanh một vị trí địa lý cụ thể - một điểm offline nào đó để dễ thu tiền về sau.

Với marketing online tôi cũng rất tập trụng, chỉ nhắm vào vùng xoay quanh điểm offline và rộng hơn một chút. Ví dụ điểm offline của tôi ở Q.3 thì tôi chỉ vào “lăng xê” nó ở những diễn đàn Sài Gòn, hay những topic liên quan Q.3 mà thôi.

3. Thanh toán

Khi tôi đã có một lượng khách hàng trung thành nhất định, chừng 100 người/ngày tôi sẽ bắt đầu dịch vụ thu tiền. Để làm điều này, tôi mở một văn phòng offline nho nhỏ ở một vị trí mà khách hàng mục tiêu của website hay qua lại. Có thể là trong hẻm, hoặc trên lầu một chung cư nào đó để tối thiểu hóa chi phí. Điểm offline này sẽ là nơi để thu hút những khách hàng qua lại trong vòng bán kinh 300m. Và có hẳn một nhân viên lo “customer service” để tư vấn cho khách hàng offline trực tiếp thay vì online.

Điểm offline này cũng là nơi giải quyết vấn đề thanh toán. Nếu khách hàng chấp nhận và bắt đầu có nguồn thu chứng tỏ mô hình đã hoạt động. Lúc này tôi tiếp tục bắt chước “mở rộng kinh doanh” theo cách của tiệm sửa xe. Tôi chỉ mở rộng quy mô khi một trong hai trường hợp sau xảy ra
- Tôi đã có lời kha khá từ điểm offline đầu tiên.
- Tôi đã có triển vọng doanh thu và có thể gọi vốn từ bên ngoài.

Khi đã có một số vốn đầu tư lớn hơn thì có thể tiếp tục giải quyết vấn đề quy mô & thanh toán bằng những cách sau
- Nhân rộng số điểm offline bằng cách mở chi nhánh hoặc nhượng quyền.
- Dùng cách “cash on delivery”: cung cấp dịch vụ và thu tiền tận nhà.
- Thu tiền qua SMS hay thẻ cào.
- Thu tiền thông qua bưu điện: cách này ở TQ một số dotcom như Ctrip thực hiện, ở VN Vinabook đang sử dụng.

Như vậy cách tiếp cận quy mô nhỏ & offline kiểu ”tiệm sửa xe” này sẽ có hai ưu điểm sau

1. Chi phí thấp - phù hợp với đa số startup.
2. Biết kết quả nhanh - nếu khoảng 1-2 năm mà vẫn không có triển vọng về doanh thu thì gần như dotcom này không có tiềm năng phát triển. Lúc này xoay sang hướng khác thì hơn thay vì cứ đi vào ngõ cụt.

http://www.facebook.com/note.php?note_id=237222829226

Các bài viết liên quan

· Bài kỳ trước: Internet startup: Dotcom và tiệm sửa xe – phần 1
· Bài tiếp theo: Internet startup: Dotcom và tiệm sửa xe – phần cuối: www.SuaXeonline.com

Tuesday, January 05, 2010

Internet startup: Dotcom và tiệm sửa xe

Tôi có cảm hứng viết bài này nhân dịp… phải ngồi ở tiệm sửa xe hơn 30p. Hình như ở VN chuyện phải vào tiệm sửa xe là chuyện không thể không xảy ra với tần suất một hai tháng thì phải?

Nếu xe quá tốt không bị trục trặc thì lâu lâu cũng bị cán đinh, nếu xe không cán đinh thì 3 tháng cũng phải thay nhớt một lần. Nếu không có xe gắn máy mà có xe hơi thì cũng phải vào trạm sửa xe hơi, dù xe gì và nế quá hoàn hảo cộng với may mắn không gặp vấn đề nào ở trên thì vẫn phải đem đi … rửa vì đường xá quá bụi bặm.



Nhìn một vòng các đường phố ở SG, trừ những vùng quá trung tâm như ở Q.1 thì ở đâu cũng có tiệm sửa xe. Các quận gần trung tâm như Q.3 thì dành cho xe hơi nhiều hơn, các quận khác thì đâu cũng có tiệm sửa xe gắn máy. Các tiệm sửa xe mọc lên như nấm, và dường như ít khi nào phải đóng cửa. Có những tiệm phất lên rất nhanh, và nhiều tiệm tuy không phát triển mạnh vẫn sống vô tư qua ngày, tỉ lệ tồn tại phải đến hơn 90%. Ngược lại có rất nhiều dotcom cũng mọc lên như nấm, và rồi từ từ biến mất sau mưa, với tỉ lệ biến mất giống như tỉ lệ tồn tại của tiệm sửa xe. Có vẻ nghịch lý hay không? Khi mà Internet đang là một trào lưu của xã hội, và vấn đề xe cộ ít khi nào được thảo luận ở các nơi đông người tham gia.

Cuối hẻm nhà tôi có một anh chàng chủ một tiệm sửa xe gắn máy. Đầu tiên anh ta thuê một mặt bằng nhỏ khoảng 4x8 ở mặt tiền đường để “khởi nghiệp” cách đây 2, 3 năm. Từ từ tiệm có nhiều khách, anh ta thuê thêm 5,6 người thợ, mở rộng kinh doanh bằng cách bán phụ tùng và linh kiện. Rồi tiệm ngày càng được nhiều người biết đến và có khách quen, khách lạ. Vì thế anh ta lại tiếp tục phát triển với việc thêm người, thuê lại một nhà xưởng ngay bên cạnh diện tích khoảng 5x18 để làm khu rửa xe và trưng bày xe gắn máy.

Cũng với quy trình như trên, hầu hết các dotcom cũng bắt đầu từ một quy mô nhỏ, sau đó có thêm nhiều người truy cập, họ lại tiếp tục thêm người, phát triển sản phẩm, mở rộng dịch vụ. Chỉ khác một điều, khi tiệm sửa xe thêm người, thêm dịch vụ thì công việc kinh doanh của họ ngày càng bền vững hơn. Còn với rất nhiều dotcom, việc thêm người và mở rộng quy mô sản phẩm dịch vụ cũng chưa thể nói trước được điều gì, ngay cả với những tập đoàn lớn đã thành danh. Như vậy đâu là mâu thuẫn trong hiện tượng trên? Thử phân tích vấn đề dưới một vài góc độ offlline.

1. Thiết thực – không thể thiếu


Có lẽ hơn 80% dân số VN có sử dụng xe đạp, xe gắn máy, hoặc xe hơi. Và như tôi đã nói ở trên, ít ra 2-3 tháng mỗi người bắt buộc phải vào tiệm sửa xe một lần hoặc tần suất cao hơn nếu phải bơm xe. Trong khi đó có rất nhiều website Việt mà chẳng ai phải cần vào, và chẳng có lý do gì để “bắt buộc vào”.

Có thể bạn sẽ nói, lập luận của tôi là không logic lắm, vì không vào website này thì sẽ vào website khác. Đồng ý. Nhưng thực tế là có khá nhiều website ra đời không thể kiếm được dù chỉ 5,10 khách hàng đến hàng ngày một cách có chủ ý, và họ cảm thấy website đó là thực sự cần thiết đối với họ, ít có sự thay thế khác.

Trong khi đó một tiệm sửa xe bất kỳ sẽ dễ dàng có 5,10 khách đến hàng ngày vì lý do quan trọng nhất là “vị trí”. Bị bể bánh xe, bơm xe, rửa xe… ai cũng có xu hướng đến tiệm sửa xe gần nhất, nếu tiệm đó không quá tệ. Như vậy có thể nói một tiệm sửa xe trung bình có thể sống qua ngày nhờ vào lượng khách trong vòng bán kính từ 100-300m quanh đó.

Tóm lại : nếu dotcom nào đó giải quyết được một vấn đề người dùng thực sự cần thì xác suất để phát triển và duy trì khách hàng sẽ cao hơn.

2. Chi phí / khách hàng

Như ở trên, với cùng một xu hướng phát triển, khi tiệm sửa xe có thêm khách hàng, điều đó cũng đồng nghĩa với việc có thêm lợi nhuận hoặc ít nhất cũng giảm trừ chi phí (do họ luôn bán linh kiện cao hơn giá vốn, phí sửa xe bù cho phí trả lương nhân viên/mặt bằng). Trong khi đó việc có thêm khách hàng ở hầu hết các công ty dotcom lại luôn đồng nghĩa với việc tăng chi phí tiếp thị, nhân sự, máy chủ …do chỉ có chi phí mà không có thu nhập, hoặc thu nhập rất ít so với chi phí. Dĩ nhiên là trừ một số ít các công ty game online đã có hệ thống kinh doanh rõ ràng và đang gặt hái lợi nhuận.

Một số mạng xã hội tầm vóc khá lớn nay đã gần như mất dạng trên sàn đấu Internet là một ví dụ. Họ đổ ra nhiều tỉ đồng, thu hút hàng trăm ngàn user, sau đó không thể tiếp tục duy trì tốc độ đốt tiền để níu kéo khách hàng cũ hoặc thu hút khách hàng mới. Sẽ có vài nhiều nguyên nhân dẫn đến “cái chết của một dotcom”, nhưng một trong những lý do quan trọng và đến nhanh nhất là “hết tiền”. Với những dotcom có vốn đầu tư ban đầu càng lớn, càng thu hút được nhiều khách hàng thì lý do này càng trở nên quan trọng hơn. Nghịch lý quá nhỉ, càng có nhiều tiền thì lại càng sớm hết tiền. Dĩ nhiên điều này cũng có ngoại lệ, trừ một số dotcom do công ty mẹ có “quá nhiều tiền” thì không thể tính vào trường hợp trên.

Tóm lại : sự khác biệt giữa việc “mạo hiểm” ở các công ty online và sự phát triển bền vững của những tiệm sửa xe có lẽ là do sự chênh lệch giữa thu và chi.

Các dotcom có xu hướng kỳ vọng vào thu nhập sẽ đến từ lượng lớn khách hàng họ có trong tương lai nên thường chi với tốc độ nhanh hơn tốc độ thu rất nhiều. Trong khi với tiệm sửa xe sự phát triển này cân đối hơn, họ chỉ mở rộng kinh doanh khi thu nhập từ khách hàng cao hơn chi phí, hoặc không quá chênh lệch so với chi phí.

3. Thanh toán

Thật ra có nhiều website rất hữu ích, bản thân tôi cũng muốn sử dụng và nếu cần thì sẵn sàng thanh toán để tận hưởng tiện ích từ những website đó đem lại. Tuy nhiên tôi, hoặc những người bạn bè tôi thường gặp hai vấn đề chính: sự bất tiện hoặc thiếu tin cậy.

Bất tiện là khi thanh toán phải qua nhiều bước đăng kí rắc rối, mất thời gian, hoặc khó hiểu… Tôi biết có nhiều người không sẵn sàng thanh toán bằng cách nhắn tin, vì nó không thân thiện với họ. Nói chung cả hai vấn đề này gộp lại là yếu tố không phù hợp văn hóa tiêu dùng của người VN.

Thiếu tin cậy là khi người dùng không dám nhập mã số thẻ tín dụng của họ vào khi sử dụng dịch vụ. Điều này xảy ra ngay cả những website lớn và đã hoạt động khá lâu ở VN. Bản thân tôi cũng vậy, tôi chí dám dùng thẻ tín dụng ở những site uy tín của thế giới. Ở VN chắc tôi mới chỉ dùng thẻ ở mỗi Vietnam Airlines hay Jetstar.

Ngay bản thân chúng tôi đã từng thực hiện một chương trình khuyến mãi nho nhỏ giảm giá phòng khách sạn trên Skydoor.net để test “mô hình kinh doanh”. Để giải quyết vấn đề thanh toán từ phía user, Skydoor phát phiếu khuyến mãi mà không thu tiền từ người dùng. Người dùng sẽ thanh toán trực tiếp với khách sạn. Khách sạn sau đó sẽ chuyển khoản tiền cho Skydoor. Hầu như không gặp vấn đề gì từ phía người dùng (vì đã “né” hẳn việc thanh toán), nhưng gặp khá nhiều rắc rối trong việc thu tiền từ khách sạn. Có khách hàng, có tiện ích nhưng muốn thu tiền cũng không dễ dàng gì.

Trong khi đó với tiệm sửa xe bạn không gặp bất cứ vấn đề gì trong việc thanh toán. Tiền mặt dễ dàng, mọi lúc, mọi nơi. Có vẻ những công ty thành công ít nhất đã giải quyết được vấn đề thanh toán, bằng thẻ cào với B2C như hoặc thanh toán offline trực tiếp với B2B.

http://www.facebook.com/note.php?note_id=233451769226
-------

Bài kỳ trước: 7 dự đoán về Internet Việt Nam 2010

Bài kỳ tới - Thứ 5: Internet startup: Dotcom học tiệm sửa xe

Thursday, December 31, 2009

Internet startup: 7 dự đoán... về Internet Việt Nam 2010

Tiếp tục chương trình R&D cho bản thân về Internet Việt Nam , tôi lại tiếp tục viết tiếp bài thứ 3. Tuy nhiên sau một hồi suy nghĩ đủ thứ chủ đề, tôi chẳng biết bắt đầu từ đâu. Quá nhiều đề tài để phân tích và đánh giá, quá nhiều điều cần phải tìm hiểu. Thôi thì bắt đầu từ yếu tố thời gian, nhân ngày cuối cùng trong năm 2009 tôi thử dự đoán về xu hướng Internet Việt Nam năm 2010.

Theo bạn, đây sẽ là năm “Đại họa” hay “Thăng hoa” của Internet VN?

Chủ đề được quan tâm nhiều nhất

1. Mobile

Nếu như năm 2006-2007 là thời thăng hoa của các công ty Internet startup thì năm 2010 có lẽ là thời “cao điểm” của vật dụng bé nhỏ trong lòng bàn tay: mobile. Mọi thứ sẽ dồn về mobile


Thế giới trong lòng bàn tay

· Danh hiệu “Võ Lâm Ngũ Bá” đã được định hình rõ ràng với vị trí bá chủ thuộc về Viettel, Mobifone, Vinaphone,…. Tuy vậy theo một nguồn tin, sẽ có một tập đoàn viễn thông của Mỹ tiếp tục “Hoa Sơn luận kiếm” với hy vọng tranh bá. Hiện tại số thuê bao di động là hơn 73.2 triệu (hết quý 1 -2009).

· Nếu như năm 2008- 2009 vị trí số một thuộc về dòng điện thoại giá rẻ dưới 2 triệu thì 2010 có lẽ vai trò này sẽ chuyển sang smartphone giá rẻ. Với hơn 50% nhu cầu thị trường quan tâm các điện thoại giá rẻ và thông minh, cùng với năng lực sản xuất của các thương hiệu di động VN và TQ như Q-mobile, F-mobile, Mobell, Welcomm, … cũng như khả năng giảm giá của Nokia, Samsung, LG… thì việc cung cầu hòa hợp không phải là điều ngạc nhiên.

· Iphone đã xác lập vị trí dòng smartphone hot nhất hiện nay. Kế đến Android mới biết đi chập chững đã chiếm khoảng 4% thị phần hệ điều hành cho di động, làn sóng này cũng đang lan dần vào VN với một số dòng của HTC. Các hãng đang phát triển mạnh ở VN như LG, Acer cũng đang chuẩn bị tung ra những chú mobile Android.

· 3G đã được 3 mạng lớn nhất triển khai. Khi mạng đã có đủ, thiết bị đầu cuối đã sẵn sàng, hệ điều hành cũng đầy tiềm năng… nói chung mọi thứ đã có đủ, vậy còn thiếu gì? Đó chính là ứng dụng phần mềm trên điện thoại di động và kế đó là… thói quen sử dụng những ứng dụng đó của người dùng cuối.

· Ngoài ra rất nhiều công ty Internet không giải được bài toán online payment sẽ tìm đến mobile như một cứu cánh. Liệu bài toán “thói quen người dùng Internet” chưa giải được của nhiều công ty sẽ tiếp tục lặp lại ở đề tài “thói quen sử dụng phần mềm Mobile”?

· Ứng dụng mobile với các lĩnh vực như: gaming, mobile internet, search, location-based service… đang là mảnh đất vàng chờ khai phá.

2. Facebook

Facebook thực sự là một hiện tượng của Internet VN 2009 ở khía cạnh mạng xã hội. Điều tôi muốn nói đến hiện tượng Facebook 2010 là khía cạnh marketing-platform.



Rất nhiều công ty Internet sẽ tập trung sử dụng Facebook như một nền tảng tiếp thị để có thể tiếp thị trực tiếp đến khách hàng theo kiểu vết dầu loang. Và kế đến, không chỉ các công ty Internet mà các công ty FMCG (hàng tiêu dùng nhanh) sẽ đổ bộ vào Facebook với các game, các ứng dụng tiện ích giải trí để quảng bá sản phẩm của mình theo mô hình tương tác.

Đơn giản hơn, các công ty chỉ cần đăng kí quảng cáo trên Facebook, hoặc tạo fan page để tiếp cận với những khách hàng đang quan tâm những lĩnh vực, mặt hàng sản phẩm họ đang sản xuất. Lợi thế của Facebook lúc này là kho thông tin cá nhân của người dùng.

Rồi những bạn trẻ năng động chuyên bán hàng qua mạng thông qua những website như 5giay, chodientu, vatgia, 123mua … cũng sẽ tạo lập một địa chỉ tương tác như group, fanpage để bắt đầu bán hàng qua Facebook. Lúc này Facebook không chỉ là đối thủ của Zing Me.

Kế đến các lập trình viên tài giỏi muốn chứng thực tài năng, hoặc muốn bắt đầu startup với một chi phí tối thiểu thì Facebook là một nơi tuyệt vời. Không cần phải là chuyên gia về PR/Marketing, không cần tốn công sức cho SEO, chỉ cần một ý tưởng những gì bạn bè xung quanh cần, và một khả năng hiện thực ý tưởng là bạn có thể start! Thậm chí không cần tạo website riêng.

Tuy nhiên, nếu Facebook bị cấm thì đó thực sự là đại họa cho Internet VN. Cơ hội thì cũng có nhưng tôi chắc khó tận dụng được.


Kế đến, thử tiếp tục dự đoán xu hướng các khía cạnh khác

3.· Mô hình kinh doanh

Vấn đề chính của Internet VN 2009 cũng như 2008 là vấn đề mô hình kinh doanh. Kiếm tiền bằng cách nào và kế tiếp là thu tiền từ khách hàng như thế nào luôn là 2 câu hỏi lớn nhất của hầu hết các dotcom. Một khi chưa có một công cụ thanh toán trực tuyến nào có khả năng “nhất thống giang hồ”, quy người dùng về một mối thì … Nhưng thật ra online payment không phải là vấn đề chính. Vấn đề có vẻ ở tự thân của từng dotcom.

Cuối năm 2004 tôi có dịp đến Tokyo. Lúc đó tôi được biết rakuten là mạng e-commerce lớn nhất Nhật Bản. Rakuten là “hàng hóa” thì phải. Tôi hỏi “Khách hàng thanh toán bằng cách nào?” thì được biết cách phổ biến nhất vẫn là “Cash on delivery” – “thu tiền khi giao hàng tận nhà” chứ không phải thẻ tín dụng. Nhật còn như vậy thì theo bạn bao lâu việc thanh toán bằng thẻ ở VN sẽ trở nên phổ biến? Theo tôi được biết thì founder vatgia.com là người từng học tập làm việc ở Nhật về, có vẻ vatgia sẽ đi theo mô hình Rakuten. Ngoài ra Vinabook cũng đang thực hiện hình thức thu tiền kiểu này, hoặc thông qua bưu điện. Ngoài ra khá nhiều công ty Internet TQ đã có những cách thức "go offline" khá hiệu quả.

Các công ty và sản phẩm trong lĩnh vực càng gần với offline như mobile, bán sách, chứng khoán, … sẽ có nhiều cơ hội thể hiện mình hơn các lĩnh vực thuần online. Điều này cũng đồng nghĩa với việc nhiều công ty kiên quyết tử thủ để bảo vệ tinh thần “pure online” theo “kiểu Mỹ” sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Kiểu TQ chắc là hợp với VN hơn! Hãy thử tưởng tượng nếu VinaGame không có hệ thống phân phối, thu tiền offline bằng thẻ, BGĐ ngồi chờ đến khi hạ tầng thanh toán trực tuyến hoàn chỉnh, thì liệu có được một VinaGame như ngày nay?


4.· Người dùng Internet

Người dùng luôn là vấn đề dễ nhất và khó nhất. Dễ vì nhiều khi chính bạn đã là người dùng Internet, lấy suy nghĩ của bản thân bạn cũng có thể hiểu được “insight” chung của đa số.
Nhiều công ty kêu than rất khó để thay đổi thói quen của người sử dụng, cũng như làm sao để dụ dỗ họ thanh toán trực tuyến (trong đó có chúng tôi). Nhưng thực tế nhìn nhận rất nhiều công ty (trong đó có cả chúng tôi) đánh đố người sử dụng theo cách này hoặc cách khác.
Ví dụ các mạng thanh toán trực tuyến tại VN, ngay cả bản thân tôi lúc muốn dùng thử đã thấy lùng bùng, rắc rối, khó sử dụng và bất tiện thì làm sao một người không am hiểu Internet có thể thích thú nổi?
Như vậy, theo tôi năm 2010 người dùng có thay đổi hay không còn tùy thuộc vào chính bản thân các cty dotcom có tự thay đổi trước để tìm ra những cách thức sáng tạo và phù hợp thực tế hơn hay không.

5.· Nhân sự

Xu hướng dịch chuyển sẽ thể hiện rõ nét trong năm 2010. Điều này có thể do 3 yếu tố chính
1. Các tập đoàn lớn đẩy mạnh phát triển sản phẩm mới
Trước sức ép ngày càng tăng của những người khổng lồ từ nước ngoài nên không còn cách nào khác, họ phải tập trung mọi nguồn lực để tự vệ. Ngoài ra họ cũng muốn tìm những nguồn thu thay thế cho mảng game online.
2. Thị trường gia công phần mềm thế giới đang dần phục hồi.
4. Khá nhiều công ty Internet do khủng hoảng phải thu hẹp hoạt động hoặc đóng cửa.


6.· Công nghệ

Cloud-computing được nhiều dự báo sẽ “hot” ở VN vào 2010, tuy nhiên theo tôi có lẽ cloud chỉ là xu hướng của thế giới. Công nghệ Internet ở VN thường đi gần với nhu cầu thực tế thị trường VN. Nên suy ra các công nghệ trên nền mobile, cụ thể là Iphone/Symbian/Android và công nghệ … viết ứng dụng trên platform Facebook sẽ có ưu thế chủ đạo.

7.· Marketing & Quảng cáo trực tuyến

Như đã nói ở phần trên, vì xu hướng Facebook trở thành marketing platform, nên các hoạt động phổ biến của Internet Marketing như SEO Google-oriented sẽ suy giảm, nhường chỗ cho các hoạt động tương tác Facebook-oriented.

Tuy các dạng SEO Google sẽ không được nhiều quan tâm như trước, nhưng quảng cáo cost-per-click của Adword sẽ nhiều khả năng trở thành một trào lưu mạnh mẽ với các công ty offline. Nếu các mạng quảng cáo lớn của VN không có được một mô hình quảng cáo mới đúng với nhu cầu của khách hàng là “hiệu quả trên chi phí” thay vì những con số Alexa, pageview bóng bẩy thì e là doanh số vốn đã không lớn của quảng cáo trực tuyến VN sẽ từ từ chạy vào túi của Google và Facebook hết.

http://www.facebook.com/note.php?note_id=225923874226
--------------------------------

Bài trên chỉ là ý kiến chủ quan của cá nhân tôi, sẽ có sai sót hoặc thông tin chưa đầy đủ.

Bài kỳ trước: Internet startup: Bí kíp kỳ hoa dị thảo từ Kiếm hiệp Kim Dung
Bài kỳ tới: Viết gì đây?

Tuesday, December 29, 2009

Internet Việt Nam - Bí kíp Kỳ hoa dị thảo từ Kiếm hiệp Kim Dung

Mấy ngày nay thỉnh thoảng tôi có dịp tái ngộ với bộ phim Anh hùng xạ điêu trên kênh HTV7 vào lúc 11h15 buổi tối. Bộ phim với những tình tiết rượt đuổi hồi hộp và gay cấn giữa những nhân vật nổi danh giang hồ như Tây độc Âu Dương Phong, Hoàng Dung, Quách Tĩnh… khiến tôi nhớ lại ngày xưa khi tôi mới bắt đầu đọc tiểu thuyết Kim Dung.


Thần điêu đại hiệp Dương Qua và Tiểu Long Nữ

Tiếu ngạo giang hồ

Lúc đó cách đây khoảng 7,8 năm. Bộ đầu tiên tôi đọc là Tiếu ngạo giang hồ. Dạo đó sau khi làm việc tôi thường ở lại công ty, và ngủ tại đó luôn. Không phải chuyện lạ, vì có tới 3,4 bạn đồng nghiệp khác của tôi cũng ở lại công ty. Sau khi đọc hết hơn 100 chương của Tiếu ngạo giang hồ, đã “quen biết” thân tình với Lệnh Hồ Xung thì tôi tiếp tục “luyện” tiếp Anh hùng xạ điêu, Thiên long bát bộ, … Nhưng thật ra lần đầu tiên tôi biết đến các câu chuyện của Kim Dung là hồi nhỏ khi xem bộ phim Võ Lâm Ngũ Bá.

Quả là rất khó tránh nổi cám dỗ chết người từ những câu chuyện có sức hút kì lạ của Kim Dung. Ông luôn có cách đưa đẩy người đọc đi theo nhân vật vào những tình tiết kịch tính đến tột cùng. Chẳng hạn Thần điêu Đại hiệp Dương Quá vì một mối ân tình khó phai và dòng chữ hiểu nhầm đã chờ đợi, tìm kiếm Tiểu Long Nữ đến gần 20 năm trời mới gặp được trong Tuyệt Tình Cốc. Hay Nhạc Bất Quần – sư phụ của Lệnh Hồ Xung thậm chí ngay cả việc “tự hoạn” ông ta cũng dám làm chỉ để luyện Tịch Tà Kiếm Phổ. Rồi Vi Tiểu Bảo trên đường hộ tống công chúa Kiến Ninh đi Vân Nam cưới con Ngô Tam Quế đã “yêu” luôn công chúa, sau đó Vi Tiểu Bảo có tổng cộng 7 cô vợ đều là giai nhân tuyệt thế và vài cô võ công thậm chí cao cường hơn Vi Tiểu Bảo nhiều.

Lúc đó tôi không thể cưỡng lại sức cám dỗ từ các bộ truyện nhiều tập của Kim Dung, buổi tối nhiều hôm tôi thức đến 2,3 giờ sáng mà rất khó dứt ra được, chỉ để đọc các trường thiên tiểu thuyết này. Sau vài tháng tôi đã tu luyện xong tất cả 15 bộ Kim Dung, mỗi bộ từ 70 – 150 chương, mỗi chương vài chục trang. Lúc đó tôi cũng tự bái phục “nội công thâm hậu” của mình J Trước đó tôi từng nghĩ chắc chả có thứ gì ghê gớm mà thu hút mình đến nỗi không thể dứt ra được như vậy. Cuối cùng tôi đã có thực chứng!

Sau này thấy rất nhiều người mê đắm điên đảo game Võ Lâm Truyền Kỳ (VLTK), tôi cũng có thể hiểu được đôi phần và “đồng cảm” với các “đồng đạo” võ lâm này, dù tôi chưa có cơ hội chơi VLTK lần nào. Có thể nói Kim Dung là “anh hùng tạo thời thế”, ông không chỉ tạo ra thời thế, mà tạo ra cả một thế giới mới mà hàng chục triệu người say đắm, hàng trăm công ty có thể “ăn theo” và tạo đà chạy cho cả một nền công nghiệp game online của VN (VLTK của Vinagame, Thiên Long Bát Bộ của FPT), rồi kế tiếp là cả ngành Internet VN. Tuy game online có những mặt trái của nó, nhưng dù sao cũng phải “Cám ơn Kim Dung”!

Phát hiện võ lâm bí kíp

Sau khi luyện hết 15 bộ Kim Dung, hồi tưởng lại, bỗng dưng tôi thấy một phát hiện thú vị. Đó là tất cả các nhân vật của Kim Dung đều rất trẻ, và họ gặt hái thành công từ rất sớm. Thú vị kế tiếp là dường như có một công thức chung cho cả bọn họ, mà tôi gọi đó là “Bí kíp kỳ hoa dị thảo”.


Lệnh Hồ Xung & Nhậm Doanh Doanh

Quách Tĩnh dường như có kỳ duyên với hầu hết các guru trong 5 ngũ bá võ lâm. Anh là đệ tử Bắc Cái Hồng Thất Công, bạn thân của Châu Bá Thông, con rể Đông tà Hoàng Dược Sư. Quách Tĩnh tuy tính cách khờ khạo nhưng có một ngộ tính rất cao về võ học và có thể học được những loại công phu khó nhất như Giáng Long Thập Bát Chưởng, hay Cửu âm Chân kinh. Tương tự là Lệnh Hồ Xung, chỉ trong 3 ngày Hồ Xung đã thẩm thấu được Độc cô cửu kiếm từ Phong Thanh Dương. Sau đó Lệnh Hồ Xung còn được một cao thủ truyền 50 năm công lực, nuốt nhầm một loại rắn cực độc (tôi không nhớ tên) mà sau đó công lực lại tăng thêm mấy thành, không sợ độc chất làm hại nữa.

Hay như Vi Tiểu Bảo, nhân vật đặc biệt nhất trong các nhân vật chính của Kim Dung, võ công vốn thường thường bậc trung, nhưng lại có khả năng ứng biến cực hay. Vi Tiểu Bảo có hai mối quan hệ thay đổi cuộc đời, một là tình bạn với vua Khang Hy, hai là ân tình với bang chủ Thiên Địa Hội – Trần Cận Nam. Hai nhân vật lớn đối địch nhau nhưng lại đều là chỗ thâm giao của Vi Tiểu Bảo.

Đi tìm “Kỳ hoa dị thảo”

Bí kíp Kỳ hoa dị thảo có 3 thành tố chính

1. Nhân vật tự thân phải có “ngộ tính” cực cao về võ học.
2. Nhân vật có “sư phụ” là bá chủ giang hồ hoặc là người thân của một võ lâm bang chủ nào đó.
3. Nhân vật tình cờ rơi xuống cốc thẳm, kỳ duyên nhặt được nhân sâm ngàn năm.

Nói thế không phải tôi xúi bạn lang thang lên Tây Nguyên hay Mộc Châu để tìm hang sâu núi cao đâu nhé. Càng không phải tôi xúi bạn đi tìm cưa cẩm con gái của một đại tỉ phú nào đó, vì Hoàng Dung yêu Quách Tĩnh vì QT … khờ chứ không phải vì QT khôn, Nhậm Doanh Doanh con Nhậm Ngã Hành mê Lệnh Hồ Xung vì lương duyên trời định chứ không phải “người định”. Coi chừng phản tác dụng!

Nhìn lại ngành công nghiệp Internet thế giới, có vẻ bí quyết này cũng ứng nghiệm không ngờ với những nhân vật lớn. Bill Gates nếu không mua lại “Cửu âm chân kinh” Q-DOS từ Tim Paterson của Seattle Computer, không được đại sư phụ IBM đỡ đầu thì liệu có một Microsoft độc bá như vậy không? Các Google founder sau rất nhiều lần thất bại, nếu không gặp Andy Bechtolsheim – Co-founder của Sun Microsystems bỏ 100.000$ đầu tư mạo hiểm, không mời được Eric Smith lúc đó là CEO của Novell về làm CEO thì có phát triển mạnh như ngày nay?


Ngay như Zuckerberg của Facebook, nếu không nhặt được “nhân sâm ngàn năm”, một sự may mắn nào đó khiến cho sản phẩm bắt đúng nhu cầu của hàng trăm triệu người toàn cầu, thì cũng khó trở thành một hiện tượng như vậy.

Chuyện may mắn có vẻ không khoa học lắm, nhưng tôi từng đọc một bài viết của một vị trưởng khoa quản trị kinh doanh của học viện công nghệ Massachuset (MIT). Ông này đã nghiên cứu về thành công của rất nhiều doanh nghiệp Internet của Mỹ và rút ra kết luận “May mắn là một yếu tố quan trọng không thể thiếu”.

Còn tại Việt Nam thì sao, theo bạn bí kíp “Kỳ hoa dị thảo” có đúng với những công ty hay tập đoàn đã rất thành công?


Bài kỳ trước: 2009 – Chặng đường đã qua

Thursday, December 24, 2009

2009 - Chặng đường đã qua!





 Thursday, December 24, 2009 at 4:30pm

Cách đây khoảng 6 tháng, tôi đã dự định viết một một số bài về thị trường Internet VN, tuy nhiên do không có thời gian nên đành hoãn lại. Bây giờ một số công việc đã hoàn tất nên mọi thứ cũng thư thả hơn nên tôi có thể bắt đầu lại dự định cũ mà vẫn mới (với tôi) .

Mục đích viết của tôi đơn giản là nhìn lại những gì đã qua để rút kinh nghiệm, tôi xem những bài viết như là một công cụ R&D của bản thân cần được lưu trữ lại một cách hệ thống. Đồng thời chúng cũng là nơi đón nhận, học hỏi những ý kiến và góc nhìn khác nhau của những đồng nghiệp, các nhà quản lý trong lĩnh vực Internet, nơi để chia sẻ kinh nghiệm cho những ai có mong muốn startup nhưng chưa bắt đầu. Mục tiêu tôi sẽ viết được mỗi tuần ít nhất một bài, và duy trì tần suất này trong vòng 3 tháng đầu năm 2010.




Có thể định nghĩa Internet startup là mong muốn xây dựng một “đế chế” chỉ với vài con người, một… mớ bàn tay trắng và một niềm tin mạnh mẽ, đồng thời bắt đầu với một ý tưởng. Càng làm tôi càng thấy ý tưởng thật sự… không hề quan trọng. Theo chủ quan của tôi, ý tưởng chỉ chiếm chừng 5-10% của thành công, dĩ nhiên ngữ cảnh đang nói ở khu vực VN, không xét ở Mỹ. Quan trọng là việc thực hiện ý tưởng đó đến cùng. Trong đó niềm tin mới là điều mấu chốt, niềm tin có thể lúc trồi lúc sụt nhưng quan trọng là phải giữ vững niềm tin. Nhưng niềm tin do con người quyết định, nên cuối cùng con người mới là quan trọng nhất.

Đi tìm thiên thời…

Có con người và niềm tin, nhưng nếu bạn hành động mù quáng theo niềm tin mà không cân nhắc trước sau thì mọi người sẽ nói là “không biết theo thời thế”. Quả đúng vậy, tôi càng thấm thía câu của ông bà ta dạy “Thiên thời, địa lợi, nhân hòa”. Có nhân hòa mà chưa có thiên thời, địa lợi thì cực kì khó khăn để thành công. Sau này tôi còn thấm hơn một câu khác cũng của ông bà truyền lại “Tu thân, tề gia, trị quốc…”. Mọi thứ đều có một thứ tự nhất định, nếu bạn muốn lội ngược dòng thì sẽ cực kì khó khăn. Xưa nay chỉ có “Thời thế tạo anh hùng” còn “Anh hùng tạo thời thế” chắc ngàn năm khó kiếm một người. Bạn muốn đóng vai nào?

Thiên thời là gì, với Internet có lẽ minh họa cụ thể là thời bong bóng dotcom ở Mỹ 1999. Trước đó hầu hết các công ty Internet đều được tôn vinh, công ty nào lên sàn giá cũng tăng vùn vụt đến chóng mặt. Ai ai cũng đổ xô vào các dotcom, nếu không tự lập dotcom thì cũng tranh thủ mua cổ phiếu hoặc bỏ vốn đầu tư vào các công ty dotcom. Mọi thứ đều dễ dàng với các dotcom từ nhân sự, huy động vốn, tiếp thị… Sau đó mọi thứ đều sụp đổ. Trước hay sau bong bóng đều có thời của nó, dù là thời thăng hoa hay thời đại họa.

Ở VN thì chưa cụ thể như thế, nhưng giai đoạn 2006-2007 cũng là năm mà rất nhiều các công ty Internet được thành lập và thu hút nhiều sự chú ý. Năm 2009 thì hầu như không thấy bóng dáng ai? Tuy nhiên tôi nghĩ công ty nào thành lập trong lúc này sẽ có tiềm năng phát triển mạnh trong tương lai. Vì ít nhất những founder sẽ có một sự chuẩn bị thật tốt và một niềm tin rất lớn mới có thể dám bắt đầu lúc này. Bạn có nghĩ vậy không?

Đâu là địa lợi?

Địa lợi là gì? Địa lợi có thể là lĩnh vực bạn chọn để bắt đầu, địa là đất - vùng đất để bạn “kiếm ăn”. Nếu bạn chọn đúng lĩnh vực “ngon ăn” thì dù bạn đứng ở vị trí thứ 4,5 bạn vẫn có thể sống tốt. Nếu chọn không đúng thì đứng số 1 vẫn chưa tới đâu. Ví dụ ở VN là game online. Trừ 3 nhà phát hành game lớn nhất là VinaGame, FPT, VTC thì một số nhà cung cấp game nhỏ hơn vẫn có thể tìm kiếm lợi nhuận. Hay ngoài đời, các ngành như dầu khí, viễn thông, tài chính đều có trung bình thu nhập cao gấp 3, 4 lần so với các ngành khác. Có thể nói nếu làm ở ngành dầu khí, dù khả năng bạn ở mức trung bình bạn cũng có thu nhập bằng một người giỏi ở lĩnh vực khác. Thậm chí ở TQ tỉ lệ khác biệt giữa các ngành là 10 lần .

Tuy nhiên địa lợi vẫn đi sau thiên thời. Chẳng hạn thu nhập từ ngành viễn thông trong khối nhà nước (trừ các đại gia mạng viễn thông) đang có xu hướng giảm từ nhiều năm nay. Nếu bây giờ bạn nhảy vào ngành Game Online thì tôi không chắc kết quả sẽ thế nào. Ngay cả VinaGame còn phải đa dạng hóa lĩnh vực chứ không thể tập trung vào nồi cơm Thạch Sanh là game thì… Ai biết được 3-5 năm tới lĩnh vực nào sẽ có “thiên thời”? Theo bạn là lĩnh vực nào?

Chặng đường đã qua!

Nhìn lại chặng đường đã qua, tuy không dài (từ T3/08) nhưng cũng lắm gian nan. Những ai đã thực sự khởi nghiệp hẳn đều biết khoảng thời gian 2 năm đầu luôn là giai đoạn khó khăn nhất. Giai đoạn này tôi và các bạn sáng lập Skydoor trải qua đủ mọi cảm xúc từ tuyệt đỉnh thăng hoa đến thất vọng cùng cực, đôi lúc có thể gọi là tuyệt vọng :)

Có thể nói startup là một lò luyện đan của Thái Thượng Lão Quân, luyện một hồi “đan” ra có tốt không thì chưa biết, nhưng ít nhất bạn trở nên chai lỳ hơn và phải đối phó với rất nhiều vấn để ở nhiều khía cạnh và mức độ “trầm trọng” khác nhau. Có những lúc chúng tôi phải đối diện với sự từ chối hàng loạt của đối tác, khách hàng, nhà đầu tư. Sản phẩm thì chưa hoàn thiện… Lúc nào tôi cũng ở trong một tâm trạng mơ hồ vì chưa có thứ gì cụ thể rõ ràng cả. Có một thời gian dài tôi không chợp mắt buổi trưa được dù chỉ 5-10 phút, buối tối thì rất khó đi vào giấc ngủ, nhiều đêm trằn trọc suy nghĩ về hướng đi sắp tới của tổ chức, mô hình kinh doanh thế nào, ai sẽ thực hiện… (nhưng chỉ 2,3 giờ sáng là ngủ vì… mệt quá, không tội gì thức trắng đêm :P).

Đó chưa phải là điều tệ nhất, vấn đề bên ngoài chưa hết thì vấn đề bên trong nảy sinh, mâu thuẫn nội bộ giữa những người sáng lập vì khác biệt về quan điểm, góc nhìn, cách thức làm việc… Mâu thuẫn phát sinh, tranh luận bùng nổ… Tuy nhiên theo tôi điều này là rất bình thường mà bất cứ startup hay nhóm làm việc nào cũng có thể gặp phải.

Đó cũng chưa phải là điều tệ nhất. Chuyện tổ chức chưa xong thì chuyện cá nhân phát sinh. Ngay cả chuyện tình cảm cũng có vấn đề. Mối quan hệ giữa tôi và bạn gái bị break up. Dĩ nhiên các khó khăn của startup không phải là vấn đề chính, nhưng nó cũng là chất xúc tác góp phần gia tăng “tốc độ” chia tay. Anh hùng thì chưa làm được, nhưng mỹ nhân đã không còn. Thậm chí một thời gian sau tôi bị “chai” luôn cảm xúc, không có cảm giác gì hết. Vẫn chưa hết, cùng với giai đoạn khủng hoảng kinh tế 2008, phần vốn đầu tư bên ngoài ở một lĩnh vực khác của tôi đã “bốc hơi” 60-70%, bình thường nếu đi làm một khoảng thời gian dài tôi cũng khó gỡ lại vốn cho phần mất đi này.

Đây là lúc tôi thấm thía nhất câu “tu thân, tề gia, trị quốc…”. Bài học từ thực tế lúc nào cũng đáng giá hơn lý thuyết, hay những bài học do người khác nói ra. Dẫu tôi đã dự tính trước rất nhiều khó khăn từ khi chưa bắt đầu, nhưng quả thật dù óc tưởng tượng phong phú đến mấy tôi cũng không hình dung hết được mọi thứ như thế này.

Lúc này tôi giống hệt “người hùng” trong câu nói của một chuyên gia đầu tư tôi vừa nghe gần đây “Bạn khởi nghiệp với hai bàn tay trắng, và gầy dựng nên… một đống nợ”… Mọi thứ rồi cũng ổn. Dĩ nhiên không phải điều gì cũng được giải quyết xong, nhưng ít nhất tôi học được cách chấp nhận thực tế, dù thực tế có rất tồi tệ. Có những điều bạn không thể thay đổi, có những điều bạn phải chấp nhận, có những điều phải có thời gian và bạn phải kiên nhẫn.

Uhm, tới đây chắc bạn bắt đầu tội nghiệp cho tôi. Mọi thứ có vẻ “thảm thiết” quá. Mất quá nhiều mà được chẳng bao nhiêu? Vậy tôi được gì? Kể từ dạo đó, mọi thứ đã trở nên tốt hơn, dù với Skydoor nói riêng và Internet VN nói chung mọi thứ còn đang ở phía trước, nhưng tôi cũng đã “tranh thủ” thu lượm được không ít thứ.

Gặt hái thành quả

1. Kinh nghiệm & trải nghiệm

Đây là một tài sản vô giá mà khủng hoảng kinh tế có trở lại cũng không lấy mất của tôi được. Đó là điều mà bạn phải nhảy vào thực tế bạn mới trải nghiệm được. Có trải nghiệm bạn mới tin được! Có rất nhiều điều mà trước khi bắt tay làm, những người đi trước nói tôi không hề tin. Tôi vẫn nghĩ: tại sao không làm thế này, tại sao không làm thế kia? Nếu là tôi, tôi sẽ làm ý tưởng này, ý tưởng nọ...blah blah blah…. Dù tôi từng có kinh nghiệm làm business riêng (nhưng không phải lĩnh vực Internet). Niềm tin được kiểm chứng tốt nhất từ thực tế.

Khi bạn phải làm một điều gì đó với mọi nguồn lực đều hạn chế, và đối diện với đủ thứ vấn đề từ linh tinh hàng ngày tới chiến lược cao xa hàng năm trời và phải xử lý hàng đống thứ không phải chuyên môn của bạn thì rất khó để so sánh với việc làm trong một hệ thống lớn và bạn chỉ phải lo chuyên môn của mình, mọi thứ khác đã có người khác lo. Vì thế tôi nghĩ một trong những khó khăn lớn nhất của startup là “Giải quyết các nguồn lực” và “Chuyên môn hóa”.

2. Đối tác và bằng hữu

Lại một điều khác mà thực tế mới chứng minh được. Chỉ khi bạn làm việc với những người khác một thời gian đủ dài bạn mới biết được họ rõ hơn, bất kể người đó là mới quen hay là bạn thân của bạn từ rất lâu rồi đi nữa. Và thời gian cũng chính là điều quan trọng để bạn có những đối tác và bằng hữu tốt mà bạn không thể “skip” qua nó.

Khi bạn làm việc với những co-founder khác bạn sẽ biết thêm nhiều điểm mạnh của đối tác mà những người khác không thấy, và cả một số điểm yếu nữa. Đồng thời chính bạn cũng bộc lộ những điểm yếu mà nhiều khi bạn cũng không để ý nếu chưa bắt tay vào việc. Tôi may mắn nhìn ra thêm những điểm yếu lớn của mình, mà để tiếp tục đi tiếp con đường Internet bắt buộc tôi phải tự hoàn thiện.

Tất nhiên ai cũng có nhiều điểm yếu, nên tôi chỉ quan tâm tới những điểm yếu không thể bỏ qua, còn một số khác tốt nhất nên để tâm vào nguyên tắc “chuyên môn hóa” và tập trung vào những điểm mạnh của mình thì hơn.

Không có cá nhân hoàn hảo, chỉ có một team hoàn hảo. Không có một team – một êkip làm việc tốt, bạn sẽ chẳng làm được gì trong thời đại này. Chúng tôi còn phải làm nhiều điều để hoàn thiện team mình theo thời gian.

3. Sản phẩm & người sử dụng

Dù giao diện Skydoor vẫn chưa hoàn thiện và hơi khó sử dụng, nhưng đến nay đã có không ít người sử dụng thân thiết và khá nhiều công ty du lịch sử dụng sản phẩm này như một công cụ chuyên môn. Về mặt cấu trúc thông tin, Skydoor đang có một database được tổ chức rất tốt. Xét về số lượng người dùng, Skydoor là một trong ba site thông tin du lịch có lượng truy cập nhiều nhất VN.

Điều thú vị và cũng là giải thưởng lớn nhất mà những người làm startup hay những ai đang hiện thực một sản phẩm Internet có được, tôi nghĩ là khi có những người sử dụng thực sự yêu thích sản phẩm của mình. Nếu bạn đạt được điều này, những thứ khác rồi sẽ đến. Chúng tôi đã có được… một phần nho nhỏ, vấn đề là phải đi tìm nốt phần còn lại :P

Ngoài ra giải thưởng NTĐV 2008 mà sản phẩm này đem lại đã giúp chúng tôi có thêm “chút gì để nhớ” đối với mọi người, nhất là giới công nghệ. Dù nhiều khi “nhớ” là bị ghét chứ chả phải thương :) Điều này nhờ công sức rất lớn của Ngôn Phạm – đối tác trong hành trình Skydoor của tôi.

4. Quan hệ

Cùng với thời gian thực hiện Skydoor, tôi đã có thêm khá nhiều mối quan hệ, từ bạn bè, đồng nghiệp Internet, quỹ đầu tư, báo chí trong và ngoài nước… Điều này giúp tôi có thêm “insight” của hầu hết các nhóm ngành có liên quan trong lĩnh vực Internet. Ở VN nếu muốn làm ăn trong bất kì lĩnh vực nào cũng không thể thiếu quan hệ.

5. Tương lai

Biết nói thế nào nhỉ, trong lĩnh vực Internet ngay cả Facebook có tới 300 triệu người dùng, Twitter lừng danh cả thế giới, hay như Zing vốn không thiếu tiền mà còn chờ vào tương lai thì tôi cũng phải hy vọng vào tương lai thôi. Vì thế những người đầu tư trong lĩnh vực Internet mới gọi là “đầu tư mạo hiểm”. Nếu thấy kết quả ngay thì đâu có gì là “mạo hiểm” phải không bạn?



Bài & comment trên Facebook http://www.facebook.com/note.php?note_id=215758734226

Monday, October 05, 2009

Internet Việt Nam, một góc nhìn từ bên ngoài "chiếc hộp"

Tối qua tôi có một cuộc gặp gỡ với một vài đồng nghiệp trong ngành Internet, nội dung chủ yếu xoay quanh thị trường Internet và các cty khởi nghiệp trong khu vực. Trong đó có hai cuộc đối thoại nho nhỏ với Mr.Mohan đến từ Singapore và Mr.X từ một quỹ đầu tư tại VN. Sau buổi nói chuyện tôi cũng thu lượm được khá nhiều thông tin bổ ích, trong đó thú vị nhất có lẽ là cái nhìn của một người từ bên ngoài VN nhìn vào thị trường VN ở góc độ khu vực ĐNA.

Để có một cái nhìn chung về người đưa ra ý kiến, tóm tắt sơ lược về Mr. Mohan như sau

Mohan tốt nghiệp khoa Computer Sciences ở NUS, sau đó học Master of Computer Sciences Management ở ĐH Stanford, lò đào tạo của nhừng sáng lập viên của Google, Yahoo, Cisco... Sau đó Mohan lập ra e27.sg, một blog , nguyên văn "a community centric startup and web technology blog" ở châu Á. e27 chuyên về media và marketing cho các MNC trong khu vực, vừa rồi e27 đã tổ chức một event lớn về Internet startup http://www.e27.sg/unconference/2009/ và sắp tới là tham gia tổ chức "Open Hack Day Asia" cho Yahoo ở Indonesia vào tháng 11 tới.

Sau đây là nội dung cuộc nói chuyện giữa tôi và Mohan. Góc độ VN tôi share với Mohan có lẽ các bạn đã biết hết rồi, nên tôi chỉ kể lại những gì Mohan nói.

Hỏi: Tại sao anh tới VN?
Đáp: Lần này tôi tới VN để khảo sát môi trường Internet VN, gặp gỡ những "the shifter and mover" ở startup space tại VN, cũng như hiểu hơn về vai trò của nhà nước với Internet, các "funding initiatives"...

Hỏi: Theo anh thì Internet VN có tiềm năng như thế nào trong ĐNA?
Đáp: VN đứng thứ 4. Theo trình tự
1. Singapore
2. Indonesia
3. Malaysia
4. Việt Nam
5. Thái Lan

Hỏi: Tại sao?
Đáp:
  • Thị trường Singapore tuy nhỏ (4.6 triệu dân) nhưng đã phát triển đầy đủ, 100% dân sử dụng Internet, thu nhập bình quân rất cao. (Một ý ngầm hiểu: Sing là sân nhà của Mohan)
  • Indonesia có gần 240 triệu dân và tỉ lệ người sử dụng Internet rất cao. Trong đó đa phần là người trẻ, thu nhập cao. Đặc biệt họ lại thường sử dụng smartphone Black Berry, Iphone... rất nhiều .
  • VN: nếu chính phủ không có những chính sách hỗ trợ mạnh thì thị trường sẽ phát triển chậm chạp.
  • Thái Lan: chính phủ không ổn định.
Hỏi: Với Yahoo VN đứng thứ mấy?
Đáp: Thứ 2. Số 1 là Indonesia. Ngoài lý do ở trên thì người sử dụng Internet ở Indo cũng rất hay sử dụng các dịch vụ của Yahoo, tương tự như ở VN.

Hỏi: Lạ nhỉ, Google thì khác hẳn, có lần một anh Google Consultant nói rằng trong ĐNA họ quan tâm nhiều nhất tới Thái Lan?
Đáp: Đó là chiến lược của Google, họ tập trung vào nước có những developer tốt nhất trong khu vực. (?!!!)

Hỏi: Thị trường Indo hấp dẫn như vậy, liệu có khó khăn gì?
Đáp: Tham nhũng, tỉ lệ tham nhũng ở đó cực cao.

Hỏi: ở Sing những công ty Internet có doanh thu lớn nhất nằm trong lĩnh vực nào?
Đáp: với thị trường nội địa hầu hết là các công ty lớn nằm trong lĩnh vực Game Online, họ cũng nhập game từ HQ và TQ về phân phối lại. Ngoài ra cũng có một số công ty về du lịch như WeGo.com (bạn của tôi thành lập - Mohan), việc làm JobStreet.com cũng khá lớn, tuy nhiên các công ty này không giới hạn phục vụ trong thị trường nội địa mà mở rộng ra khu vực hoặc thế giới.

Hỏi: điều gì tạo nên sự phát triển vượt bậc của Singapore?
Đáp: Sing nhỏ, ít người, không có tài nguyên, nên chúng tôi phải nỗ lực vươn ra bên ngoài, dùng chất xám thay cho tài nguyên để phát triển. Đồng thời Lý Quang Diệu cũng là người quan trọng nhất tạo ra Singapore ngày nay.
Hỏi: Nhưng vài người bạn (người Sing) của tôi nói là họ không thích ông ấy, ông ấy theo chủ nghĩa gia đình trị, các vị trí quan trọng của nhà nước đều do các thành viên gia tộc họ Lý nắm giữ (thủ tướng, chủ tịch quỹ Temasek 200 tỉ USD...).
Đáp: Đúng là gia đình trị, nhưng điều quan trọng là kết quả, kết quả ông ấy tạo ra rất tốt. Bạn có biết thủ tướng Sing là người có mức lương cao nhất trong các nguyên thủ thế giới? 2.000.000$. Trong khi lương tổng thống Mỹ là 400.000$.

Ghi chú
Tiếp theo là nội dung đoạn trao đổi của tôi với Mr.X. Mr.X trước đây làm tại một quỹ đầu tư lớn tại VN, sau đó anh mới chuyển sang một quỹ đầu tư mới thành lập tại VN hơn 1 năm (quỹ Y), có hai founder tốt nghiệp MBA tại Harvard (ở VN không biết có hơn 10 người không?).
Quỹ này tuy chưa từng đầu tư vào một Internet startup nào tại VN, nhưng cũng rất quan tâm tới dotcom vì một founder từng nắm giữ những vị trí giám đốc toàn cầu của nhiều bộ phận tại một tập đoàn công nghệ lớn nhất nhì thế giới. Ngoài ra founder này cũng là một thành viên sáng lập của một website đấu giá nổi tiếng ở TQ, đã được bán lại cho Ebay.

Hỏi: Tại sao quỹ Y không đầu tư vào các công ty Internet startup tại VN?
Đáp: Thời điểm này còn khá sớm, nên đầu tư giai đoạn này rất rủi ro. Seri A có lẽ sẽ phù hợp hơn, khoảng 3-5 năm nữa. Tuy nhiên đó chỉ là nhận định chủ quan, thực tế mới là câu trả lời chính xác nhất.

Hỏi: Thế các công ty Internet ở VN hiện nay có gì đáng lưu ý?
Đáp: Hiện tại chưa thấy công ty nào thực sự outstanding.
Hỏi: Công ty V thì sao?
Đáp: Đúng là họ đã có bước khởi đầu rất tốt với sản phẩm đầu tiên. Tuy nhiên các sản phẩm sau này chưa thực sự tạo ra được dấu ấn gì đáng kể.

Hỏi: Vậy hiện giờ quỹ đang làm gì?
Đáp: Hiện giờ quỹ Y không phải là venture fund mà là private equity fund. Tập trung đầu tư vào các lĩnh vực truyền thống đang phát triển mạnh, các lĩnh vực có thị trường nội địa lớn hoặc xuất khẩu mà VN có lợi thế cạnh tranh.

Hỏi: Những lĩnh vực nào VN có lợi thế cạnh tranh?
Đáp: Có một vài lĩnh vực VN có lợi thế cạnh tranh, ... nhưng xét kỹ lại thì cuối cùng không chắc VN có lợi thế cạnh tranh thật sự hay không.

Hỏi: Thế xuất khẩu thủy sản, nông nghiệp VN cũng đã có những mảng chiếm thị phần số 1 hoặc nằm trong top 3 thế giới như tiêu, điều, tôm... thì sao?

Đáp: Đó chỉ là số lượng, số lượng chưa nói lên được vấn đề. Rất nhiều lĩnh vực ta không kiểm soát được chất lượng nguyên liệu đầu vào...chẳng hạn vẫn thu mua tôm có bơm tạp chất.. số lượng cũng không ổn định... Có lẽ cuối cùng phải đánh giá lại có nên đầu tư vào VN không chứ không chỉ đầu tư vào lĩnh vực nào.

Hỏi: Vậy tại sao có những lĩnh vực có vẻ cũng "hot" và được nước ngoài quan tâm?
Đáp: Cũng có những lĩnh vực phát triển nhanh, nhưng cũng chỉ là bùng phát ngắn hạn. Về dài hạn chúng tôi chưa nhìn thấy sự phát triển bền vững.

Đến đây thì buổi nói chuyện tạm kết thúc do mọi người không thể cưỡng lại... món bò cuốn nướng nóng hổi đang bốc khói nghi ngút... rất hấp dẫn của Barbecue Garden.

sleepingfool@gmail.com